Các bài viết về hệ thống mạng LAN, WAN
|
đăng 10:34 08-07-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Brien M. Posey
Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn các giải pháp đơn giản để khắc phục các vấn đề của Remote Access Service.
Giới thiệu
Nếu đã từng sử dụng Remote Access Services, chắc hẳn
bạn sẽ biết được rằng các wizard cấu hình khá hữu ích trong việc đơn
giản hóa việc cài đặt phức tạp. Dù Microsoft được cho đã có công rất
lớn trong vấn đề này nhưng thực sự trong sử dụng đôi khi đó lại là con
dao hai lưỡi. Khi mọi thứ không làm việc như mong đợi thì việc khắc
phục sự cố vấn đề ở đây không đơn giản chút nào do quá trình làm việc
của Remote Access Service bị ẩn phía sau bề mặt của nó. Tuy nhiên giải
pháp để khắc phục những vấn đề như vậy lại khá đơn giản nếu bạn biết
tìm đúng hướng. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn
một số vấn đề có liên quan đến Remote Access Service và cách khắc phục
chúng như thế nào.
Người dùng không thể truy cập mạng
Vấn đề hay xảy ra nhất mà chúng tôi muốn giới thiệu
cho các bạn có liên quan đến Remote Access Service là việc người dùng
kết nối với máy chủ RRAS từ các máy tính của họ và nhưng không thể truy
cập vào mạng. Có thể nói đây là một trong những vấn đề khá phức tạp vì
nó giống như việc chuẩn đoán các vấn đề với máy tính gia đình của ai đó.
Nếu bạn muốn chuẩn đoán và khắc phục vấn đề qua hệ
thống điện thoại, thì việc khắc phục sự cố có thể tốn đến hàng giờ đồng
hồ và bên cạnh đó người dùng phải có mặt ở nhà để giúp bạn khắc phục sự
cố máy tính cá nhân của họ. Điều này hẳn không có gì thú vị vì không ai
muốn phải gọi điện hỗ trợ cho người dùng khi họ về nhà vào buổi cuối
ngày làm việc.
Một mặt, nếu người dùng của bạn mang máy tính của họ
đến văn phòng để bạn có thể khắc phục được vấn đề một cách nhanh chóng
và thậm chí có thể thực hiện nó trong suốt thời gian làm việc hành
chính trong ngày thay cho việc phải sử dụng đến thời gian cá nhân nhưng
vấn đề ở đây là rất có thể người dùng của bạn vẫn phải quanh quẩn bên
bạn trong toàn bộ thời gian đó.
Đối với một quá trình chuẩn đoán, việc phát sinh lỗi
hoàn toàn không thể đoán trước nhất là việc không thể kết nối với mạng
khi họ kết nối đến máy chủ RRAS. Chúng tôi có thể nêu ra một tình huống
đã gặp phải đó là máy tính ở nhà của một người dùng đã bị nhiễm virus
và và vấn đề phát sinh thêm nữa trong tình huống đó là trẻ nhỏ trong
gia đình của người dùng đó đã thay đổi ngăn xếp TCP/IP. Cả hai tình
huống đó đều rất mất công trong việc khắc phục.
Thứ đầu tiên mà chúng tôi khuyên các bạn thực hiện
là đào tạo người dùng cách bản đồ hóa một “network drive”, sau đó là
cách sử dụng ổ đĩa đã được bản đồ hóa đó để thao tác với các file của
họ. Ở đây có rất nhiều tình huống, nhất là đối với các phiên bản hệ
điều hành Windows cũ với tình huống không duyệt được mạng nhưng vẫn
thấy ổ đĩa mạng.
Có một vấn đề nữa mà bạn có thể thực hiện để khắc
phục vấn đề là hướng dẫn người dùng thay đổi thiết lập workgroup của
họ. Tại sao lại như vậy là vì, phần lớn người mua máy tính trong đó kết
nối giữa máy tính đến máy tính thường được cấu hình mặc định với tên
workgroup được đặt trước là WORKGROUP. Tuy nhiên các mạng các trong các
công ty lại sử dụng các miền tên khác cho các workgroup này. Chính vì
vậy chỉ cần phát hiện ra lỗi trong việc đặt tên này cũng giúp bạn khắc
phục được vấn đề duyệt mạng của người dùng.
Khắc phục vấn đề quay số vào máy chủ truy cập từ xa
Vấn đề thứ hai mà chúng tôi giới thiệu ở đây cho các
bạn có liên quan đến Remote Access Service đó là trường hợp người dùng
muốn quay số vào Remote Access Server nhưng không thể thiết lập được
kết nối. Trong tình huống này cũng có một số vấn đề gây ra điều đó.
Theo kinh nghiệm, chúng tôi đã sử dụng Remote Access
Services như một phương tiện để cho phép người dùng đang ở xa quay số
vào mạng công ty. Trong các tình huống như vậy, việc sử dụng Remote
Access Services và quay số để kết nối cũng là một cách sử dụng khi
không có các kết nối băng thông rộng trong các vùng đó.
Quả thực có những vùng ở xa chỉ có đường điện thoại
không đủ chất lượng để truyền tải dữ liệu tốc độ cao. Với một số văn
phòng được xây dựng từ lâu cũng không phải là một ngoại lệ đối với tình
huống này.
Các vấn đề đối với chất lượng của đường truyền như
vậy luôn cần đến một mẹo. Trong một số trường hợp, vấn đề có thể được
khắc phục bằng cách cài đặt các bộ lọc giữa đường điện thoại và modem
vì các bộ lọc này sẽ lọc bớt tạp âm đường truyền.
Nếu bạn muốn thiết lập một kết nối trong một vùng
nông thôn, hoặc nếu đường điện thoại dẫn đến tòa nhà mà bạn muốn thiết
kế hệ thống mạng đã lạc hậu thì rõ ràng bạn sẽ không thể có được một
kết nối tốt.
Nếu bạn đã từng sử dụng giao diện điều khiển Remote
Access Services, chắc hẳn bạn sẽ thấy không có cơ chế nào để chuẩn đoán
các vấn đề kết nối. Mặc dù vậy vẫn có một số công cụ chuẩn đoán hữu
dụng trong Control Panel.
Nếu bạn gặp phải vấn đề trong thiết lập kết nối bằng
modem, khi đó thứ đầu tiên mà bạn phải thực hiện là thu hẹp vấn đề đó
về máy khách hoặc máy chủ. Điều này rất dễ thực hiện vì nếu vấn đề tồn
tại trên máy chủ thì các máy khác quay số vào máy chủ đều gặp phải vấn
đề đó còn không như vậy thì vấn đề sẽ là do máy chủ.
Trước khi quyết định vấn đề có thuộc về máy khách
hay không, bạn phải quan sát xem máy chủ có sử dụng nhiều đường điện
thoại không. Nếu máy chủ sử dụng nhiều đường điện thoại thì bạn nên
thực hiện một số bài test để xem liệu máy khách khác có thể quay số và
thiết lập một kết nối tới cùng đường điện thoại mà máy kia không thực
hiện được.
Một thứ mà bạn nên sử dụng trong trường hợp này là
kết nối đó đã từng làm việc tin cậy trong quá khứ hay không. Nếu kết
nối luôn tin cậy và ngẫu nhiên từ chối làm việc như vậy thì vấn đề có
thể là do một vài nguyên nhân khác.
Một nguyên nhân có thể trong đó thuộc về công ty
điện thoại đang cung cấp trong vùng. Vấn đề sẽ phát sinh nếu bạn vẫn sử
dụng kiểu quay số theo dạng tần.
Một vấn đề khác nữa đó là sự đột biến về điện có thể
làm hỏng modem. Thậm chí không cần xuất hiện các trận mưa bão lớn hay
sấm sét. Tuy sự biến thiên này thường không đủ mạnh để làm hỏng điện
thoại nhưng chúng có thể phá hỏng một modem; đặc biệt nếu đường nối vào
modem không sử dụng bộ chống sốc. Cách đơn giản nhất để test điều kiện
này là đổi modem và thiết lập kết nối.
Kết luận
Trong bài này chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn
một số giải pháp đơn giản để khắc phục một số vấn đề phức tạp đối với
Remote Access Service và chúc các bạn thành công.
Văn Linh (Theo WindowsNetworking)
|
đăng 10:32 08-07-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Kiểu
mạng đơn giản nhất chính là kiểu mạng chỉ gồm có đúng hai máy tính. Bạn
có thể sử dụng kiểu mạng này để chia sẻ các file, máy in hoặc thiết bị
ngoại vi khác, hay thậm chí cả kết nối Internet. Để kết nối hai máy
tính với nhau nhằm chia sẻ những thứ như vậy và tài nguyên mạng khác,
bạn cần biết các phương pháp kết nối dưới đây.
Kết nối hai máy tính trực tiếp bằng cáp
Phương pháp truyền thống để kết nối hai máy tính với
nhau là sử dụng một liên kết chuyên dụng bằng cách cắm một cáp vào cả
hai hệ thống. Một số cách thực hiện để kết nối hai máy tính như vậy
được liệt kê dưới đây:
- Cáp Ethernet đấu chéo (crossover)
- Cáp nối tiếp hoặc song song
- Cáp USB đặc biệt
Ethernet - phương pháp Ethernet
được ưa thích vì nó hỗ trợ kết nối tốc độ cao, tin cậy và cấu hình cũng
đơn giản. Thêm vào đó, công nghệ Ethernet còn cung cấp giải pháp đa
năng nhất, cho phép bạn có thể nâng cấp lên một mạng có nhiều máy tính
hơn từ các mạng có hai máy tính khá dễ dàng sau đó. Nếu một trong các
máy tính của bạn sử dụng Ethernet adapter nhưng các máy tính còn lại
lại sử dụng USB, khi đó cáp Ethernet đấu chéo vẫn có thể được sử dụng
bằng cách cắm khối chuyển đổi USB-to-Ethernet vào cổng USB của máy tính.
Nối tiếp và song song – Kiểu cáp này được gọi là Direct Cable Connection (DCC)
– kết nối cáp trực tiếp – khi sử dụng Microsoft Windows, kiểu cáp này
cho mức hiệu suất thấp hơn nhưng vẫn có các chức năng cơ bản như kiểu
kết nối bằng cáp Ethernet. Bạn cũng có thể chọn cách này nếu có nhiều
cáp có sẵn và tốc độ mạng của bạn không thành vấn đề. Các cáp nối tiếp
vào song song không bao giờ được sử dụng để kết nối các mạng có nhiều
hơn hai máy tính.
USB – Cáp USB thông thường không
được sử dụng để kết nối hai máy tính trực tiếp với nhau. Việc cố gắng
thực hiện có thể làm hỏng các máy tính! Mặc dù vậy các cáp USB được
thiết kế chuyên dụng cho kết nối trực tiếp có thể được sử dụng cho mục
đích này. Bạn có thể chọn cách kết nối này nếu các máy tính của mình
thiếu các adapter mạng Ethernet.
Để tạo các cáp chuyên dụng bằng cáp Ethernet, USB, nối tiếp hoặc song song, yêu cầu:
- mỗi máy tính đều phải có giao diện mạng với một giắc cắm ngoài để cắm cáp và
- các thiết lập mạng trên mỗi máy tính được cấu hình thích hợp
Lưu ý: Đường dây điện thoại và dây nguồn không thể được sử dụng để kết nối trực tiếp hai máy tính với nhau.
Kết nối hai máy tính bằng cáp thông qua cơ sở hạ tầng trung tâm
Thay cho việc kết nối cáp trực tiếp giữa hai máy
tính, các máy tính có thể được “join” gián tiếp thông qua một thiết bị
mạng trung tâm. Phương pháp này yêu cầu hai cáp mạng, mỗi một cáp được
dùng để kết nối giữa máy tính với thiết bị trung tâm. Một vài kiểu
thiết bị trung tâm có thể được sử dụng cho kết nối mạng kiểu này là:
- Ethernet hub, switch và router
- USB hub
- Các đầu ra của đường điện nguồn và đường điện thoại.
Việc thực thi phương pháp này thường cần thêm chi
phí cho việc mua thêm cáp và cơ sở hạ tầng mạng. Tuy nhiên bạn có thể
chọn phương pháp này nếu muốn mở rộng mạng của mình trong tương lai.
Hầu hết các mạng chạy cáp đều sử dụng công nghệ
Ethernet. Tuy còn có một số cách khác đó là các USB hub hay sử dụng các
mạng gia đình quan đường điện nguồn và điện thoại cũng có thể được sử
dụng thay cho. Mặc dù vậy các giải pháp Ethernet truyền thống thường
cho độ tin cậy và hiệu suất cao hơn.
Kết nối không dây hai máy tính
Những năm gần đây, giải pháp kết nối mạng không dây
thường được sử dụng ngày một phổ biến trong các kết nối mạng. Cũng như
các giải pháp chạy cáp, cũng có một số công nghệ không dây hỗ trợ cho
việc kết nối mạng hai máy tính:
Các kết nối Wi-Fi có thể vươn tới khoảng cách xa hơn
so với các kết nối không dây khác được liệt kê bên dưới. Nhiều máy tính
mới, đặc biệt là các laptop hiện đều có khả năng kết nối Wi-Fi. Wi-Fi
có thể được sử dụng có hoặc không có thiết bị mạng tập trung. Với mạng
hai máy tính, kết nối mạng Wi-Fi sẽ không cần đến thiết bị tập trung
(chế độ sử dụng để kết nối là ad-hoc mode) được thiết lập rất đơn giản.
Công nghệ Bluetooth hỗ trợ các kết nối không dây tốc
độ cao giữa hai máy tính mà không cần đến một thiết bị mạng tập trung.
Bluetooth thường được sử dụng khi kết nối một máy tính với một thiết bị
cầm tay như điện thoại di động. Hầu hết các desktop và các máy tính cũ
đều không có chức năng Bluetooth. Bluetooth làm việc tốt nhất nếu cả
hai thiết bị đều được đặt trong cùng phòng với một khoảng cách gần
nhau. Có thể chọn giải pháp Bluetooth nếu bạn quan tâm đến việc kết nối
với các thiết bị cầm tay và các máy tính của bạn thiếu chức năng Wi-Fi.
Kết nối hồng ngoại đã tồn tại trên các laptop nhiều
năm trước khi công nghệ Wi-Fi và Bluetooth trở nên phổ biến. Các kết
nối hồng ngoại chỉ làm việc giữa hai máy tính, không yêu cầu đến thiết
bị tập trung và cũng có tốc độ khá nhanh. Quá trình thiết lập kết nối
rất đơn giản, bạn có thể chọn giải pháp này nếu các máy tính của bạn hỗ
trợ nó và bạn không cần nỗ lực để sử dụng kết nối Wi-Fi hay Bluetooth.
Nếu tìm thấy một kiểu công nghệ không dây khác có tên HomeRF,
bạn có thể bỏ qua nó vì công nghệ này đã trở thành lỗi thời cách đây
vài năm và không thích hợp với việc kết nối mạng gia đình.
Văn Linh (Theo About.com)
|
đăng 10:30 08-07-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Bạn đã bao giờ tự hỏi xem địa chỉ Router của mình là gì chưa? Một
router mạng gia đình điển hình xử lý hai địa chỉ IP, một cho LAN trong
gia đình và một cho kết nối nối WAN Internet bên ngoài. Vậy bạn có thể
tìm ra các địa chỉ IP của Router như thế nào? Câu trả lời được cung cấp
ngay trong bài.
Địa chỉ LAN-IP bên trong thường được thiết lập bằng
một số riêng, mặc định. Cho ví dụ các Router Linksys thường sử dụng địa
chỉ 192.168.1.1 là địa chỉ IP bên trong của chúng. Các Router D-Link và
Netgear thường sử dụng địa chỉ là 192.168.0.1. Một số Router Robotic
của Mỹ lại sử dụng địa chỉ 192.168.123.254, trong khi đó một số Router
SMC sử dụng 192.168.2.1. Dù Router của bạn có thương hiệu nào đi chăng
nữa thì địa chỉ IP bên trong mặc định của nó sẽ được cung cấp trong tài
liệu. Các quản trị viên thường có thể thay đổi địa chỉ IP này trong quá
trình thiết lập Router. Trong bất cứ trường hợp này, địa chỉ LAN-IP
riêng cũng đều được cố định khi thiết lập. Nó có thể được xem từ giao
diện quản trị của Router.
Địa chỉ WAN-IP bên ngoài của Router được thiết lập
khi Router kết nối với nhà cung cấp dịch vụ Internet. Địa chỉ này có
thể được xem trên giao diện quản trị của Router. Cách khác, địa chỉ
WAN-IP cũng có thể được tìm thấy bằng cách vào dịch vụ tra cứu địa chỉ
IP trên web như http://checkip.dyndns.org/ từ bất cứ máy tính nào trên
mạng LAN.
Một cách khách để tìm ra các địa chỉ IP công của
Router là sử dụng lệnh “ping” hoặc lệnh “traceroute”. Từ bên trong một
mạng gia đình, lệnh (DOS) "ping -r 1" sẽ gửi một thông báo qua Router
để làm hiển thị địa chỉ IP của nó. Cho ví dụ, lệnh "ping -r 1
www.quantrimang.com" sẽ hiển thị kết quả trong một tin giống như hiển
thị bên dưới trên nhắc lệnh:
Trong ví dụ này, địa chỉ IP sau "Route:" (209.179.21.76) tương ứng với địa chỉ WAN của Router.
Trên các mạng công ty, các dịch vụ phát hiện mạng
dựa trên SNMP cũng có thể tự động xác định các địa chỉ IP của Router và
nhiều thiết bị mạng khác.
Văn Linh (Theo About.com)
|
đăng 21:53 19-06-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
David Davis
Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn 10 cách để khắc phục sự cố các vấn đề phát sinh với DNS Resolution.
Giới thiệu
Tất cả chúng ta đều cần đến một DNS Resolution đích
thực cho các ứng dụng mạng của mình. Tuy nhiên khi có sự cố với nó xảy
ra, bạn cần phải thực hiện những gì?
Hãy đối mặt với tình trạng này khi DNS Resolution
không làm việc, sử dụng bất cứ thứ gì trên máy tính có liên quan đến
mạng đều gặp khó khăn thì có rất có thể một lúc nào đó nó sẽ không làm
việc. DNS thực sự không phải là một tính năng tuyệt vời cho một mạng,
nó chỉ là một cách thức để thực hiện. Với tư cách là một quản trị viên,
bạn chắc chắn đã nghe thấy việc cảnh báo của nhiều người dùng về tình
trạng mạng bị “sập” của họ, nguyên nhân khi đó lại thường là các máy
chủ DNS.
Vậy làm cách nào bạn có thể khắc phục được dịch vụ
cơ sở hạ tầng mạng quan trọng này khi đang ở máy tính người dùng (hay
máy tính của bạn) và DNS hiện không phân giải tên miền? Đây là 10 mẹo
chúng tôi khuyên bạn nên sử dụng để khắc phục sự cố về DNS Resolution
này.
1. Kiểm tra kết nối mạng
Nhiều lần, nếu bạn mở trình duyệt web của mình, nhập
vào một URL và URL đó thất bại trong việc truy cập đến website mà bạn
muốn truy cập, khi đó bạn có thể đổ lỗi nhầm cho DNS. Trong thực tế,
vấn đề thường gây ra sự việc này lại nằm ở chính kết nối mạng của bạn.
Điều này lại càng đúng hơn nếu bạn sử dụng một kết nối mạng không dây
trên máy laptop. Với các giao thức bảo mật không dây, key sẽ được điều
đình lại một cách định kỳ hoặc cường độ tín hiệu của sóng vô tuyến bị
yếu, gây ra hiện tượng mất kết nối mạng. Tuy nhiên nguyên nhân mất kết
nối mạng có thể xảy ra với bất cứ kiểu mạng nào.
Hay nói theo cách khác, trước khi đổ lỗi cho DNS về
các vấn đề mà bạn mắc phải, hãy bắt đầu khắc phục sự cố bằng cách kiểm
tra lớp vật lý của mình đầu tiên, sau đó kiểm tra kết nối mạng của bạn.
Ở đây ếu bạn sẽ phát hiện thấy kết nối không dây của mình có một kết
nối Internet vững chắc hay không.
Hình 1: Kết nối mạng không dây vẫn ở trạng thái tốt
Lưu ý về cách Access là Local and Internet. Nếu nó chỉ hiện “Local” thì bạn không có địa chỉ mạng hợp lệ (trong trường hợp này, bạn chỉ có một APIPA riêng bắt đầu với địa chỉ 169.x.x.x).
Điều này dẫn đến vấn đề tiếp theo. Bạn sẽ cần bảo
đảm rằng có một địa chỉ IP hợp lệ trên mạng của mình. Có thể kiểm tra
điều đó bằng cách vào View Status trên màn hình ở trên, sau đó vào Details,
bạn có thể kiểm tra địa chỉ IP của mình và thẩm định các địa chỉ IP của
DNS Server. Tiếp đến, nếu bạn có địa chỉ 169.x.x.x thì bạn sẽ không bao
giờ có được kết nối Internet. Đây là những gì thể hiện bằng hình ảnh:
Hình 2: Thẩm định địa chỉ IP của bạn và các địa chỉ IP của DNS Server
2. Thẩm định các địa chỉ IP của DNS server là đúng và theo thứ tự
Khi bạn biết rằng mình có kết nối mạng và có địa chỉ
IP hợp lệ, chúng hãy đi sâu hơn nữa vào tìm kiếm các vấn đề bên trong
DNS bằng cách thẩm định rằng các địa chỉ IP của DNS Server là đúng và
được đặt theo đúng thứ tự.
Nếu quan sát trong hình 2 ở trên bạn sẽ thấy các địa chỉ IP IPv4 DNS Server. Lưu
ý rằng có cả local LAN / subnet để bạn có thể truy cập thậm chí nếu
cổng mặc định bị hỏng. Đây là cách nó làm việc trên hầu hết các mạng
doanh nghiệp. Mặc dù vậy, các máy chủ DNS của bạn không phải lúc nào
cũng nằm trên subnet. Với hầu hết các ISP, các IP của DNS Server thậm
chí còn không nằm trên cùng subnet với cổng mặc định (default gateway).
Trong hầu hết các cấu hình router của gia đình hay
các doanh nghiệp vừa và nhỏ (home/SMB), chúng không có các máy chủ DNS
riêng và các SMB router sẽ proxy (ủy nhiệm) DNS đến các máy chủ DNS
thực. Trong trường hợp đó, địa chỉ IP của DNS Server có thể cùng với
router của bạn.
Cuối cùng, bảo đảm rằng DNS Server của bạn nằm đúng
thứ tự. Trong trường hợp thể hiện trong hình 2, DNS Server nội bộ của
chúng tôi là 10.0.1.20. Nó được cấu hình để “forward” tất cả các tên
miền mà nó không thể phân giải đến 10.0.1.1, địa chỉ router nội bộ.
Router đó sẽ proxy DNS đến DNS Server của ISP. Chúng ta thể tra cứu các
DNS Server đó trên router của mình, xem thể hiện trong hình 3.
Hình 3: Các DNS Server đã nhận từ ISP thông qua DHCP
Điều này đã gợi ý thêm hai điểm nữa. Đầu tiên, hãy
bảo đảm rằng DNS Server của bạn nằm ở đúng thứ tự. Nếu trường hợp bạn
có một local DNS Server, giống như chúng tôi và đang tra cứu tên miền
nội bộ (local DNS name), muốn PC client tra cứu local DNS name đó trong
local DNS Server đầu tiên, trước Internet DNS Server. Khi đó, local DNS
server của bạn cần nằm đầu tiên trong các thiết lập DNS.
Thứ hai, bạn có thể ping địa chỉ IP của DNS Server
của ISP. Theo cách này, chỉ cần các DNS server được liệt kê nằm ở trên
router của mình, bạn có thể thẩm định rằng mình có thể ping chúng thậm
chí từ máy tính cục bộ của mình:
Hình 4: Ping DNS Server của ISP
Lưu ý về thời gian đáp trả từ hành động ping của bạn
đến DNS Server của ISP. Điều này có thể làm chậm các tra cứu DNS hoặc
thậm chí còn có thể làm thất bại nếu nó mất quá lâu thời gian để DNS
server đáp trả.
3. Ping địa chỉ IP của host mà bạn muốn truy cập đến (nếu biết)
Một cách nhanh để chứng tỏ nguyên nhân là vấn đề của
DNS chứ không phải vấn đề của mạng là ping đến địa chỉ IP của host mà
bạn đang muốn truy cập đến. Nếu kết nối đến tên miền thất bại nhưng kết
nối đến địa chỉ IP thành công thì bạn sẽ biết rằng vấn đề của mình nằm
ở DNS.
Tuy nhiên nếu DNS Server của bạn không hoạt động thì
rất khó chỉ ra địa chỉ IP mà bạn đang kết nối đến là gì. Để thực hiện
test này, bạn phải có một sơ đồ (diagram) mạng hoặc giống như nhiều
quản trị viên vẫn thực hiện, chỉ cần nhớ địa chỉ IP của host.
Nếu làm việc, cho tới khi DNS server hiện hữu lần nữa, bạn có thể đặt vào một entry trong file hosts của mình để bản đồ hóa IP đến hostname.
4. Tìm ra DNS server đang được sử dụng bằng nslookup
Bạn có thể sư dụng lệnh nslookup để
tìm ra các thông tin về DNS resolution của mình. Một trong những trường
hợp vẫn áp sử dụng là xem DNS server nào đang cung cấp cho bạn câu trả
lời và DNS server nào không.
Hình 5: Đầu ra của lệnh nslookup
Lưu ý trong hình 5, DNS server của ISP đã cung cấp
cho chung ta thông tin “non-authoritative answer”, có nghĩa rằng nó
không cấu hình miền nhưng vẫn có thể cung cấp một đáp trả.
Bạn cũng có thể sử dụng lệnh này để so sánh các đáp trả từ các DNS server khác nhau bằng cách cung cấp DNS server nào sử dụng.
5. Kiểm tra hậu tố DNS
Nếu bạn đang tra cứu host nội bộ trên một DNS server
mà máy tính của bạn là một thành viên nằm trong đó, khi đó bạn có thể
kết nối đến một host, không sử dụng FQDN (fully qualified DNS name) và
trông mong vào hậu tố của DNS có thể giúp bạn tìm ra vấn đề. Cho ví dụ,
nếu chúng ta kết nối đến “server1”, DNS server có thể
có nhiều entry cho tên miền đó. Khi đó adaptor mạng của bạn sẽ được cấu
hình với hậu tố DNS kết nối. Như ví dụ trong hình 2, DNS là wiredbraincoffee.com. Do đó bất cứ khi nào tôi nhập vào một tên miền như server1, hậu tố DNS sẽ được bổ sung vào phần cuối của nó để tạo thành server1.wiredbraincoffee.com.
Bạn nên thẩm định hậu tố DNS của mình là đúng.
6. Bảo đảm rằng các thiết lập DNS của bạn được cấu hình để kéo IP của DNS từ máy chủ DHCP
Bạn muốn adaptor mạng của mình thu được các địa chỉ
IP của DNS Server từ DHCP Server. Nếu quan sát vào hình ở trên adaptor
này đã được ghi rõ các địa chỉ IP của DNS Server.
Hình 6: Thẩm định các thiết lập của DNS Server
Bạn có thể cần phải thay đổi “Obtain DNS server address automatically” theo thứ tự để có được IP mới của DNS server. Để thực hiện điều đó, hãy mở tab Properties của adaptor mạng, sau đó kích Internet Protocol Version 4 (TCP/IPv4).
7. Phóng thích và “renew” địa chỉ IP của DHCP Server (và cả thông tin DNS)
Dù adaptor của bạn đã được thiết lập để kéo các
thông tin DNS từ DHCP, nó vẫn có thể xảy ra hiện tượng xung đột địa chỉ
IP hoặc nhận phải các thông tin DNS server cũ. Chính vì vậy sau khi
chọn để thu nhận địa chỉ IP và DNS một cách tự động, bạn nên phóng
thihcs địa chỉ IP của mình và “renew” nó.
Tuy có thể thực hiện điều này với Windows Diagnosis
trong cấu hình mạng của mình, nhưng có một cách khác mà bạn có thể thực
hiện ở đây là thông qua nhắc lệnh. Nếu bạn đã kích hoạt UAC, hãy chạy
nhắc lệnh cmd của Windows với quyền quản trị viên để thực hiện:
IPCONFIG /RELEASE
IPCONFIG /RENEW
Sau đó, thực hiện với lệnh IPCONFIG /ALL để xem những thông tin IP và DNS mới như thế nào.
8. Kiểm tra DNS Server và restart các dịch vụ hoặc reboot nếu cần thiết
Rõ ràng, nếu DNS server bị treo thực sự hoặc bị
hỏng, hoặc bị cấu hình sai, bạn sẽ không thể khắc phục điều đó tại phía
trình khách. Tuy nhiên bạn có thể vòng tránh (bypass) máy chủ hỏng vì
một lý do chưa xác định mà không cần sửa nó.
Theo cách đó những người chịu trách nhiệm cho DNS
server cần phải kiểm tra trạng thái và cấu hình của DNS server để khắc
phục vấn đề DNS.
9. Reboot router DNS văn phòng nhỏ hay gia đình
Như đã đề cập ở trên trong cách thứ 2 và được thể
hiện trong hình 3, trên các router gia đình và văn phòng nhỏ, các thiết
lập DNS server thường được thực hiện thông qua DHCP với một tập các DNS
server đối với một IP của router và router sẽ proxy DNS đến DNS server
của ISP.
Tuy vậy, máy tính nội bộ của bạn có thể có các thông
tin mạng (gồm có các địa chỉ IP của DNS server), nhưng cũng có trường
hợp router của bạn có thông tin sai. Để bảo đảm rằng router của bạn có
các thông tin DNS server mới nhất, bạn có thể thực hiện một phát hành
DHCP và “renew” giao diện WAN của router với ISP. Hoặc cách dễ dàng hơn
có thể là reboot router để nó nhận được các thông tin mới nhất.
10. Liên hệ với ISP
Tất cả chúng ta đều biết sẽ mệt mỏi như thế nào
trong việc liên lạc với một ISP trong việc khắc phục một vấn đề mạng.
Tuy nhiên nếu máy tính của bạn vẫn gặp vấn đề về DNS resolution từ các
máy chủ DNS của ISP thì bạn cần phải liên lạc với họ, đó chính là cách
giải quyết cuối cùng.
Kết luận
DNS resolution là một thành phần quan trọng đối với
cơ sở hạ tầng mạng của chúng ta và nó phải làm việc đúng cho các ứng
dụng mạng thực hiện chức năng của nó. Trong bài này, chúng tôi đã cung
cấp cho các bạn 10 cách khắc phục sự cố khác nhau với các vấn đề về DNS
resolution, hy vọng các thông tin trên là hữu ích với các bạn!
Văn Linh (Windowsnetworking)
|
đăng 11:26 05-05-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
David Davis
Trong bài này
chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách download, cài đặt, sử dụng bộ
kiểm tra mạng miễn phí PRTG để kiểm tra và khắc phục các vấn đề trong
việc kết nối mạng của Windows.
Giới thiệu
Một vài năm trước đây bạn có thể sử dụng PRTG
Traffic Grapher của Paessler. PRTG Traffic Grapher là một tiện ích
Windows đơn giản dùng để kiểm tra lưu lượng mạng theo đồ thị được thu
thập bằng cách sử dụng SNMP, Netflow và các phương pháp khác. Paessler
cũng cung cấp một phiên bản PRTG khác có tên gọi Network Monitor. Đây
là phiên bản không cho phép kiểm tra hiệu suất và kết nối mạng nội bộ
cho máy tính nội bộ của bạn nhưng kết nối và kiểm tra mạng cho toàn bộ
doanh nghiệp. PRTG Network Monitor có thể thực hiện điều này thông qua
khoảng 10 kiểu sensor khác nhau như SNMP, WMI, & Netflow. Nếu bạn
muốn thấy được PRTG Network Monitor có thể giúp bạn kiểm tra máy tính
Windows nội bộ và mạng Windows như thế nào, hãy thử sử dụng PRTG
Network Monitor, version 7.
PRTG là gì, bạn có thể download từ đâu và cách cài đặt như thế nào?
Paessler là một công ty của Đức, sản phẩm chính của công ty là PRTG. Như đã được đề cập, có hai phiên bản của PRTG đó là Network Monitor và Traffic Grapher.
Cả hai sản phẩm này đều có các phiên bản miễn phí và phiên bản thương
mại. Phiên bản miễn phí bị giới hạn trong 10 sensor (các phiên bản
thương mại cho dùng thử cũng tương tự). PRTG Network Monitor cho phép
bạn thực hiện các hành động dưới đây:
- Kiểm ta băng thông, hiệu suất sử dụng, uptime và khả năng sẵn có
- Vấn đề báo cáo và cảnh báo
- Giao diện web
Network Monitor hỗ trợ việc kiểm tra các mạng lên
đến 30.000 sensor và có thể báo cáo về tình hình các kết nối có hội tụ
SLA hay không.
Các thiết bị Windows có thể được kiểm tra bằng SNMP,
ping và WMI. Trong khi đó với các thiết bị non-Windows, bạn có thể kiểm
tra chúng bằng việc sniffing (tạm dịch là kiểm tra) các gói dữ liệu,
NetFlow (cho các thiết bị Cisco), SMTP (cho các máy chủ email), HTTP
(cho các máy chủ web) và một số công nghệ kiểm tra khác.
Bạn hãy download 27MB phần mềm PRTG Networking Monitor miễn phí và bắt đầu cài đặt của mình.
Hình 1: Bắt đầu cài đặt PRTG
Bạn có thể chọn cài đặt Core Server hoặc Remote Probe theo ý định của mình.
Hình 2: Chọn cài đặt - Server hoặc Remote Probe
Trong thử nghiệm trong bài, chúng tôi đã chọn để sử dụng phiên bản miễn phí.
Hình 3: Cài đặt phiên bản miễn phí (Free Edition)
PRTG Network Monitor sẽ cài đặt một máy chủ web và
cơ sở dữ liệu. Như những gì có thể thấy trong hình 4, bạn sẽ cần phải
chọn username, password, địa chỉ email quản trị của mình, giao diện để
máy chủ PRTG web server sẽ chạy trên đó và số cổng. Cũng cần phải đặt
tên cho máy chủ của bạn. Trong trường hợp thử nghiệm, chúng tôi đã chọn
giao diện host nội bộ và sử dụng cổng 81.
Hình 4: Các thiết lập Network Monitor cần thiết
Sau đó, PRTG sẽ được cài đặt.
Sử dụng PRTG Network Monitor
Đăng nhập vào PRTG Network Monitor bằng cách sử dụng
trình duyệt web , nhập vào địa chỉ IP và số cổng cụ thể trong quá trình
cài đặt.
Hình 5: Đăng nhập PRTG
Thứ đầu tiên mà bạn cần thực hiện đó là bổ sung thêm
các thiết bị mạng vào PRTG. Cách đơn giản nhất để thực hiện điều đó là
sử dụng tính năng Auto Discovery.
Hình 6: Chạy AutoDiscovery
PRTG sẽ tìm ra các thiết bị trên mạng của bạn và bắt
đầu thu thập các thống kê về chúng. Phụ thuộc vào kiểu thiết bị, bạn có
thể hoặc không thể thực hiện các công việc mở rộng để cung cấp các
chuỗi SNMP mang tính cộng đồng, Windows username & password cho WMI
hoặc các tiêu chuẩn cụ thể khác để có được một thống kê chi tiết hơn.
Hình 7
Lưu ý rằng trong hình 7 ở trên, 12 thiết bị mạng
khác nhau được phát hiện một cách tự động và được đưa vào PRTG. Thậm
chí không có cấu hình, các thiết bị khác cũng đang được kiểm tra theo
nhiều cách khác nhau, dựa vào các khả năng của chúng. Cho ví dụ, một số
thiết bị chỉ được kiểm tra bằng cách sử dụng phương pháp ping. Các thiết bị khác được kiểm tra bởi phương pháp ping và http, nếu chúng có một giao diện web. Host nội bộ trong thử nghiệm của chúng tôi được kiểm tra bằng cách sử dụng ping và diskspace, memory, pagefile, processor và networking. Cuối cùng, HP printer thử nghiệm cũng được kiểm tra bằng ping, http, thậm chsi cả số trang đã in pages printed.
PRTG Network Monitor có thể giúp bạn giải quyết các vấn đề với kết nối mạng như thế nào?
Đây là 5 cách PRTG Network Monitor có thể giúp bạn giải quyết được các vấn đề trong kết nối mạng Windows:
1. Kiểm tra CPU, bộ nhớ, trang nhớ và hiệu suất mạng nội bộ và từ xa
Như một Windows Network Administrator, bạn sẽ thích
kiểm tra tất cả các vấn đề ở đây, cả nội bộ và từ xa, vì nếu có một vấn
đề nào đó diễn ra trên một thôi thì bạn sẽ phải gánh chịu hiệu suất hệ
thống nội bộ nghèo nàn hoặc hiệu suất nghèo nàn trên toàn bộ cơ sở hạ
tầng Windows.
Trong hình 8 bên dưới, bạn sẽ thấy hiệu suất CPU cho
máy trạm Vista nội bộ qua hai ngày (cho cả hai lõi CPU). Từ đây, chúng
ta có thể kết luận trong trường hợp này, CPU thử nghiệm không gặp phải
hiện tượng nghẽn cỗ chai khi sử dụng tối đa là 62%.
Hình 8: Hiệu suất CPU cho hệ thống nội bộ thử nghiệm sau hai ngày.
Bạn có thể tạo cùng kiểu biểu đồ đó để hiển thị %
không gian đĩa, bộ nhớ,… còn trống. Biểu đồ có thể được hiển thị theo
thời gian thực, trong vòng 2 ngày, một tháng hoặc thậm chí trong khoảng
thời gian 1 năm. Như đã đề cập trong phần 4, chúng ta có thể cấu hình
các cảnh báo dựa trên những chứng chỉ gì mình chọn.
Rõ ràng, đây là một ví dụ về hệ thống nội bộ trong
thử nghiệm, bạn có thể kiểm tra bất cứ hệ thống Windows nào có thể truy
cập đến, cũng như hệ thống non-Windows ( giống như các router Cisco,
VMware servers,…)
2. Kiểm tra các thống khác như dung lượng đĩa trống, các processes, services, hay các bản ghi sự kiện
Như những gì thể hiện trong hình 9 bên dưới, chúng
ta có thể bổ sung thêm các kiểu sensor khác. Trong thử nghiệm, chúng
tôi đã tạo một vòng tròn màu đỏ khoanh vùng quan trọng với các quản trị
viên mạng. Chúng là Windows Services, Processes, Files, Event Log
Entries, và các thành phần dữ liệu Windows sống còn khác.
Bạn cũng có thể kiểm tra các kiểu cơ sở hạ tầng của
mình như VMware ESX Servers, máy chủ web, máy chủ mail, các thiết bị
mạng , SQL servers, máy chủ file và thậm chí cả các máy in.
Hình 9: Bổ sung thêm kiểu sensor khác
3. Xem tất cả các thiết bị mạng trên biểu đồ
PRTG Network Monitor có thể được sử dụng để sắp xếp
và phân loại các thiết bị mạng của bạn theo một cách quan sát nào đó
(hoặc nhóm). Như vậy, trong biểu đồ, bạn sẽ thấy được các báo cảnh, chỉ
số lưu lượng, tải của CPU và thời gian đáp trả cho tất cả các thiết bị.

Hình 10: Tất cả các thiết bị trong mạng trên biểu đồ
4. Được báo cảnh bằng email hoặc SMS
Cấu hình các cảnh báo email và SMS với nhiều kiểu
trigger khác nhau. Trong hình 11, bạn có thể thấy trạng thái, tốc độ,
phân vùng, ngưỡng và thay đổi trigger thông báo.
Hình 11: Tạo các Trigger thông báo
5. Kiểm tra các ứng dụng và các máy chủ trên các mạng như SMTP, HTTP, VMware,…
Thêm vào đó, PRTG Network Monitor không chỉ là một
công cụ cho Windows mà nó còn là một bộ kiểm tra mạng có thể phục vụ
toàn bộ cho cơ sở hạ tầng của bạn, hỗ trợ tất cả các kiểu thiết bị.
Như đã đề cập trước, PRTG Network Monitor hiện được
cung cấp dưới dạng phiên bản miễn phí và phiên bản thương mại. Và cuối
cùng, một lý do nữa cho việc sử dụng PRTG Network Monitor là nó có thể
kiểm tra khả năng tương thích của iPhone (xem trong hình 12).
Hình 12: PRTG Network Monitor đang kiểm tra iPhone
Kết luận
Trong bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn
cách download, cài đặt và sử dụng tiện ích miễn phí PRTG Network
Monitor để kiểm tra và khắc phục sự cố các vấn đề kết nối mạng trong
Windows. Bên cạnh đó PRTG có thể giúp bạn không chỉ kiểm tra được máy
tính nội bộ và còn cả các máy chủ cơ sở hạ tầng và toàn bộ mạng của bạn.
Văn Linh (Theo WindowsNetworking)
|
đăng 11:24 05-05-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Để
cấu hình máy tính của bạn (đã kiểm tra trên Windows 2000, Windows XP và
Windows Server 2003) dùng cả DHCP để cấp phát địa chỉ IP và địa chỉ IP
tĩnh ta làm theo các bước sau đây:
Cấu hình máy tính của bạn để dùng DHCP
1. Nhấn chuột phải lên My Network Places và chọn Properties
2. Trên NIC thường có nhãn là Local Area Connection - nhấn chuột phải lên đó và chọn Properties.

3. Chọn TCP/IP (Hãy chắc chắn rằng bạn không bỏ dấu chọn ở đây) và nhấn nút Properties.

4. Hãy chắc rằng tùy chọn "Obtain Automatically" được lựa chọn

5. Bạn có thể kiểm tra thiết đặt của mình bằng cách chạy lệnh: ipconfig /all tại cửa sổ cmd:

6. Công việc đã hoàn tất.
Thêm một địa chỉ IP tĩnh thứ hai (hoặc thứ ba và nhiều hơn nữa)
1. Nhấn Start và chọn Run. điền vào: Regedit và nhấn Enter.
Chú ý: Trên Windows 2000 và NT bạn cần chạy regedt32 thay cho regedit.
2. Đi đến khóa sau:
HKEY_LOCAL_MACHINE'SYSTEM'CurrentControlSet'Services'Tcpip'Parameters'Interfaces'
{B003AD4A-B6DB-44FD-9741-CBA3C51B6498}
3. Chọn khóa IPAdress và nhấp kép vào đó.
4. Trong hộp thoại Edit Multi String điền vào
một địa chỉ IP thứ hai (thứ ba và v.v..). Hãy chắc rằng mỗi địa chỉ IP
bạn điền vào cách nhau trên một dòng riêng biệt. Nhấn OK.

5. Chọn khóa SubnetMask và nhấp kép vào nó.
6. Trong hộp thoại Edit Multi String điền vào
một Subnet Mask thứ hai (thứ ba và v.v..). Hãy chắc rằng mỗi Subnet
Mask bạn điền vào nằm trên một dòng riêng biệt. Nhấn OK.

7. Đóng trình registry editor này lại.
8. Trở lại với Local Erea Connection, nhấn chuột phải lên NIC và chọn Disable.

9. Nhấn chuột phải lên NIC và chọn Enable

10. Kiểm tra các thiết đặt của bạn bằng cách chạy câu lệnh ipconfig /all tại cmd:

|
đăng 11:23 05-05-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Phân
tích giao thức mạng là một kĩ thuật thường được dùng để xem, trong chế
độ thời gian thực các luồng dữ liệu được gửi và nhận thông qua một giao
diện mạng. Cái này thật sự rất hữu ích cho việc khắc phục các sự cố về
cấu hình mạng và các vấn đề ứng dụng mạng. Nó cũng
rất hữu ích khi phát triển một giao thức mạng mới. Trong bài viết này,
tôi sẽ trình bày một cách căn bản về việc khắc phục một ứng dụng mạng
với Wireshark (Ethereal).
Tổng quan về Wireshark
Ethereal là một chương trình phân tích giao thức mã nguồn mở ban đầu
được viết bởi Gerald Combs. Sau đó nó được đổi tên thành Wireshark năm
2006. Hiện nay Wireshark được quản lý và phát triển bởi hàng trăm người
trên khắp thế giới.
Nó không thể làm những việc gì?
Như bất kì một công cụ nào khác, Wireshark có thể được dùng cho một số
việc và không cho một số việc khác. Ở đây là danh sách của một số việc
mà Wireshark không thể làm:
1. Nó không thể dùng để vạch ra một mạng. Thay vào đó công cụ Nmap có thể đảm nhiệm chức năng này.
2. Nó không sinh ra ra các dữ liệu mạng - nó là một công cụ bị động.
Những công cụ như nmap, ping và traceroute là ví dụ về các công cụ có
khả năng sinh ra các dữ liệu mạng. Những công cụ này là công cụ chủ
động.
3. Nó chỉ có thể chỉ ra thông tin chi tiết về các giao thức mà nó thật
sự hiểu. Nó hiểu được rất nhiều các giao thức và có thể mở rộng ra, vì
vậy bạn có thể thêm vào các giao thức hỗ trợ cho nó nếu nó không
hiểu. Tuy nhiên bạn sẽ chỉ có thể xem được các dữ liệu mà nó bắt được
dưới dạng hexdump.
4. Nó chỉ có thể bắt được dữ liệu tốt khi giao diện driver của hệ điều
hành hỗ trợ. Ví dụ của việc này là việc bắt dữ liệu thông qua mạng
không dây. Nó không làm việc tốt với một số phần mềm và phần cứng kết
hợp.
Cài đặt Wireshark
Wireshark là một ứng dụng mã nguồn mở và có thể download miễn phí tại trang www.wireshark.org. Cách cài đặt nó khá dễ dàng và được hướng dẫn như dưới đây.
1. Nhấn kép vào file cài đặt
2. Nhấn nút "Next" ở màn hình Welcome.

3. Nhấn nút "I Agree" để chấp nhận các điều kiện đăng kí.

4. Nhấn nút "Next" để chấp nhận các thiết đặt mặc định tại hộp thoại Choose Components.

5. Nhấn nút "Next" tại hộp thoại Select Additional Tasks.

6. Nhấn nút "Next" tại hộp thoại Choose Install Location.

7. Tại thời điểm này, trình cài đặt sẽ yêu cầu nếu bạn muốn cài đặ WinPcap. Hãy chắc chắn rằng ô Instal WinPcap được chọn và nhấn nút "Next".

8. Việc cài đặt Wireshark sẽ bắt đầu sao chép file vào hệ thống của bạn.

9. Trình cài đặt WinPcap sẽ được giới thiệu trong suốt quá trình cài Wireshark. Nhấn nút "Next" tại màn hình Welcome.

10. Nhấn nút "Next" tại màn hình WinPcap Setup Wizard.

11. Nhấn nút "I Agree" tại màn hình License Agreement.

12. Nhấn nút "Finish" để đón trình cài đặt WinPcap.

13. Nhấn nút "Next" tại hộp thoại Wireshark Installtion Complete.

14. Nhấn nút "Finish" để đóng trình cài đặt Wireshark.

Chạy Wireshark trên Windows
Khởi động Wireshark
Khởi động Wireshark trên windows đơn giản bằng cách nhấn kép vào
shortcut trên menu Start. Điều này sẽ giúp mở ra màn hình chính của
Wireshark.


Giao diện Wireshark
Giao diện của Wireshark rất đơn giản.
1. Title bar - Thanh này sẽ chứa những
thông tin khác nhau phụ thuộc vào những gì Wireshark đang làm. Nếu nó
đang bắt dữ liệu mạng, nó sẽ hiểu thị giao điện đang sử dụng. Nếu nó
đang hiển thị dữ liệu từ lần bắt dữ liệu trước đó, tên của file chứa
trong dữ liệu bắt được đó sẽ được hiển thị (untitled sẽ được hiển thị
nếu lần bắt đó được trình diễn, dừng lại và không được lưu lại). Ngược
lại nó sẽ hiển thị tên của ứng dụng: Wireshark network Protocol Analyzer.
2. Menu bar - Thanh này cung cấp khả năng truy cập đến các tính năng của ứng dụng.
a. File - Chức năng làm với việc với dữ liệu bắt được như lưu lại và export đến các định dạng file khác nhau.
b. Edit - Chức năng tìm kiểm packets, thiết đặt thay đổi thời gian, và tham khảo các thiết đặt
c. View - Chức năng thay đổi cách hiển thị thông tin của Wireshark.
d. Go - Chức năng tìm vị trí của một packet chỉ rõ.
e. Capture - Chức năng bắt đầu và dừng lại các lần bắt, lưu lại các filter và làm việc với các giao diện mạng.
f. Analyze - Chức năng giải thích và lọc dữ liệu bắt được.
g. Statistics - Chức năng thống kê phân tích dữ liệu bắt được.
h. Help - Chức năng trợ giúp.
3. Main tool bar - Lối tắt để sử dụng các chức năng thường dùng trong thanh menu.
4. Filter tool bar - Truy cập nhanh đến chức năng filter.
5. Packet list pane - Hiển thị tất cả các packet trong file bắt hiện tại.
6. Packet details pane - Chỉ rõ các chi tiết của packet được chọn hiện tại trong khung Packet List.
7. Packet bytes pane - Chế độ xem hexdum của packet hiện tại trong Packet List.
8. Status bar - Cung cấp các thông điệp và thông tin phản hồi đến người dùng.

Ví dụ về cách làm việc của Wireshark
Trong ví dụ này, tôi sẽ khởi động Wireshark bắt các packet trên mạng
không dây của laptop. Sau đó tôi sẽ khởi động Thunderbird để lấy lại
email từ Comcast và Gmail.
1. Đầu tiên khởi động Wireshark.
2. Sau đó chọn Capture -> Interfaces từ thanh menu.

3. Sau đó hộp thoại Interfaces sẽ được mở ra. Chọn
giao diện mà bạn muốn sử dụng. Đây là điều quan trong khi Wireshakr
(như với bất kì trình phân tích giao thức nào khác) chỉ có thể bắt dữ
liệu từ một mạng mà nó kết nối đến một cách tự nhiên. Tôi dùng Ethernet
adapter không dây trong laptop vì vậy sẽ chọn Intel adapter trong danh sach. Nhấn nút "Start".
Tiến trình bắt dữ liệu sẽ được bắt đầu. Sau một thời gian ngắn, bạn sẽ
thấy cửa sổ chính của Wireshark (danh sách packet, chi tiết và khung
byte) được điền đầy với các dữ liệu

4. Bây giờ tôi sẽ khởi động Thunderbird và đăng nhập
vào cả hai tài khoản Gmail và Comcast. Tại thời điểm này tôi sẽ chờ đợi
cho tất cả các mail download về và sau đó sẽ dừng việc bắt mạng bằng
cách chọn Capture -> Stop từ thanh menu. Nhấn File và Save để lưu việc bắt dữ liệu này vào đĩa sau khi tất cả các dữ liệu đã được bắt.

5. Tôi vừa bắt được 2 phiên POP3 hoàn thiện với
Wireshark. Để lấy riêng thông tiên về các phiên pop tôi sẽ dùng một
filter. Trong thanh filter bạn điền vào đoạn text sau và nhấn nút
"apply": tcp.port eq 110. Điều này sẽ giới hạn các
hiển thị về traffice trên cổng tcp 110 (cổng pop). Cũng nên chú ý rằng
Wireshark hiểu được POP (Post Office Protocol), vì vậy nó sẽ trình diễn
được các bít của thông tin như câu lệnh POP và các thông tin chứng
thực. Tôi không kết nối đến Comcast mail server sử dụng SSL vì vậy mật
khẩu của tôi được chứa trong các traffic dưới dạng clear text nghĩa là
các dữ liệu không được mã hóa. Tôi phải chọn screenshot này một cách
khôn ngoan và thật sự dùng cái này để khắc phục các sự cố về người dùng
client kết nối đến pop và imap server.

6. Kéo thanh cuộn xuống phía dưới của dữ liệu bắt
được sau khi đã dùng filter nó chỉ hiện ra một cuộc đàm thoại giữa hai
host: laptop của tôi và Comcast mail server. Điều gì xảy ra với Gmail?
Bởi vì tôi dùng SSL với tài khoản gmail và kết nối SSL POP được kết hợp
với cổng 995 chứ không phải cổng 110. Trong thanh filter điền vào đoạn
text sau và nhấn "apply": tcp.port eq 995. Điều này
sẽ trình diễn tất cả các POP thông qua SSL. Nhưng chú ý rằng không có
bất kỳ thông tin chi tiết nào khác sẽ có về giao thức ứng dụng này.
Giao thức dùng trên cổng 995 là TCP, SSl và TLS. Bạn sẽ thấy một số
packet đi kèm với các key, nhưng đó là tất cả để làm với vấn đề bảo mật
kết hợp với SSL và TLS. Tất cả dữ liệu của ứng dụng này đã bị mã hóa.

|
Ngọc Quang (Theo Petri)
|
|
đăng 11:20 05-05-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Robert J. Shimonski
Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách cấu hình máy chủ VMware VirtualCenter Management Server và cá nhân hóa nó.
Giới thiệu
Khi làm việc với VMware, bạn sẽ ngay lập tức thấy
được các ưu điểm trong việc hợp nhất việc quản lý nhiều máy chủ ESX
trong môi trường của mình vào một VirtualCenter để điều khiển tập
trung. VirtualCenter là một giải pháp tuyệt vời cho việc cung cấp các
dịch vụ tính sẵn sàng cao (HA) và việc kiểm tra tập trung. Cũng cá nhân
hóa một cách dễ dàng VirtualCenter sau khi cài đặt ban đầu của bạn.
Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về cách cấu hình
VMware VirtualCenter Management Server và cá nhân hóa nó.
Cấu hình các tùy chọn VirtualCenter Management Server
VMware VirtualCenter (viết tắt là VC) được sử dụng
cho việc quản lý tập trung nhiều máy chủ VMware ESX. VC giúp cung cấp
việc báo cáo, ghi chép và các dịch vụ quản lý khác cho môi trường ảo
của bạn. Việc đăng ký, cấu hình Active Directory, SNMP, kiểm tra email
và bảo mật nâng cao đều có thể cấu hình bên trong VC. Khởi chạy VMware
Infrastructre Client (VIC) để truy cập vào VC. Khi làm việc với VC, bạn
hãy vào Administration trong toolbar và chọn ‘VirtualCenter Management
Server Configuration’.
Hình 1
Khi đã chọn, hộp thoại VirtualCenter Management
Server Configuration sẽ xuất hiện và cho phép bạn cấu hình các tùy chọn
bên trong VC. Các tùy chọn này sẽ giúp bạn không chỉ đăng ký VC mà còn
cho phép bạn duy trì nó. Bên dưới là một số tùy chọn cấu hình.
- Các tùy chọn cho việc đăng ký
- Thu thập dữ liệu thống kê
- Cấu hình các thiết lập runtime
- Email các thông báo
- Kiểm tra dựa trên SNMP
- Các thiết lập giao thức trên web
- Các thiết lập Timout
- Các tùy chọn ghi chép
- Cơ sở dữ liệu
- Các thiết lập SSL
- Các thiết lập nâng cao
Ở đây, bạn có thể thấy các tùy chọn từ phía trái của
hộp thoại VirtualCenter Management Server Configuration. Để tìm hiểu
thêm về mỗi phần, chúng tôi đã giới thiệu một cách chi tiết về mỗi một
cấu hình trong phần dưới đây.
Đăng ký máy chủ
Tiếp đến, bạn có thể cấu hình các tùy chọn cho việc
đăng ký. Khi cài đặt VC, các tùy chọn cấu hình cài đặt chính sẽ cho
phép bạn đánh giá VC, hoặc đăng ký nó để sử dụng sản phẩm. License
Server có thể được cấu hình để sử dụng các dịch vụ đăng ký trên bản
thân máy chủ VC hoặc sử dụng Licsene Server riêng. Các tùy chọn cấu
hình khác cần phải chọn phiên bản VC và cho phép các host mới được bổ
sung vào kho kiểm kê khi được thêm.
Hình 2
Thống kê
Khi chọn Statistics (thống kê), bạn có thể cấu hình
cách VC thu lượm các thống kê như thế nào. Trong lựa chọn này, bạn có
thể xem các khoảng thời gian thống kê (Statistics Intervals) mặc định
cũng như chỉnh sửa nó.
Hình 3
Để chỉnh sửa các khoảng thời gian cấu hình hiện
hành, bạn chỉ cần đánh dấu thiết lập khoảng thời gian thống kê mà bạn
muốn chỉnh sửa và kích nút Edit.
Hình 4
Lúc này, bạn có thể cấu hình chu kỳ thời gian, ngày
giữ các mẫu và mức để sử dụng cho các bộ sưu tập cụ thể. Cho ví dụ, mức
1 gồm có những vấn đề cơ bản như hiệu suất trung bình của
CPU/Memory/Disk và CPU/Memory/Disk cũng như System Uptime và VMware DRS.
Ngoài việc cấu hình những thứ như các khoảng thời
gian sưu tập, hạn chế thống kê và mức thống kê, bạn còn có thể chỉ định
số thread được sử dụng để thu thập các thống kê về hiệu suất từ các
host được quản lý và mức chi tiết cho việc sưu tập thống kê hiệu suất.
Các thiết lập về Runtime
Khi chuyển xuống các thiết lập VirtualCenter
Management Server Configuration, bạn sẽ thấy các thiết lập Runtime. Ở
đây bạn có thể thấy hoặc cấu hình các thiết lập run-time duy nhất cho
cài đặt VirtualCenter. Ở đây, bạn có thể thấy rằng ID duy nhất của VC
Server được thiết lập là 36. Bạn cũng có thể cấu hình số cổng
VirtualCenter TCP/IP. Ở đây, cổng được thiết lập là 902. Cuối cùng bạn
có thể cấu hình địa chỉ IP của máy chủ.
Lưu ý: Bạn cần phải khởi động lại VC để thay đổi tất cả các thiết lập ngoại từ IP được quản lý.
Hình 5
Active Directory
Hầu hết các ứng dụng kết nối đến thư mục LDAP để
thẩm định và các lý do bảo mật khác. Active Directory (Microsoft LDAP
đang cung cấp) là một dịch vụ thư mục thường được sử dụng. Ở đây bạn sẽ
có thể cấu hình các thiết lập nào đó như Active Directory timeout, số
người dùng tối đa và các nhóm hiển thị trong hộp thoại Add Permissions
và tần suất cho việc thực hiện sự đồng bộ và hợp lệ hóa của người dùng
và nhóm người dùng đã biết của VirtualCenter. Hộp kiểm Enable
Validation cho phép bạn cấu hình Validation Period (một cách nhanh
chóng). Điều đó cho phép bạn cấu hình số thời gian mà VC sẽ đợi trước
khi thực hiện sự đồng bộ và hợp lệ hóa của người dùng và nhóm người đối
với Active Directory.
Hình 6
Mail
Tiếp đến, bạn có thể cấu hình các tùy chọn Mail, đây
là một thao tác rất đơn giản. Chỉ định máy chủ SMTP và tài khoản mail
mà bạn thích VC sử dụng để chuyển tiếp mail.
Hình 7
SNMP
Bạn cũng có thể cấu hình Simple Network Management Protocol (hoặc SNMP) cho VirtualCenter.
Lúc này bạn có thể cấu hình và chỉ định các URL, các
cổng và các chuỗi cộng đồng. Lưu ý rằng, mặc định được gọi là public và
private, vì vậy nhiều lần nó thường thay đổi các mật khẩu mặc định này
(hoặc các chuỗi cộng đồng).
Hình 8
Web Service
Trong phần này, bạn có thể cấu hình Web Service. Với
VC, bạn có thể kết nối thông qua trình duyệt web và quản lý VC,
download VIC và phần mềm khác, kiểm tra trạng thái của môi trường ESX
của bạn. Bạn có thể chỉ định cổng web được sử dụng chung – chẳng hạn
như cổng 80 cho HTTP và cổng 443 cho HTTPS.
Hình 9
Các thiết lập Timeout
Bên trong các thiết lập Timeout, điều chỉnh các
thiết lập VC cần sử dụng cho cả các kết nối và timeout. Nếu máy khách
kết nối đến VC thì cần phải chỉ định chu kỳ timeout nào đó. Chỉ định
các giá trị timeout cho kết nối VIC (Virtual Interface Client) cho các
hoạt động thông thường và các hoạt động dài, trong trường hợp này, nó
được thiết lập là 30s cho các hoạt động thông thường vầ 120 phút cho
các hoạt động dài.
Hình 10
Các tùy chọn ghi chép
Trong Logging Options, bạn có thể chỉ định mức độ
chi tiết và phạm vi của các bản ghi được sưu tập trong các hoạt động
VirtualCenter thông thường. Có nhiều tùy chọn như vậy:
- Info (ghi chép thông thường)
- None (vô hiệu hóa việc ghi chép)
- Error (các lỗi)
- Warning (lỗi và cảnh báo)
- Info (ghi chép thông thường)
- Verbose (ghi chép dài)
- Trivia (ghi chép mở rộng)
Ở đây, bạn có thể cấu hình mức ghi nào mà bạn muốn
VC đảm nhận. Điều này cần phải được sử dụng cẩn thận. Cho ví dụ, nếu
bạn quyết định thực hiện việc khắc phục sự cố nâng cao và thay đổi kiểu
ghi cho VC, cần phải bảo đảm mình đang làm việc gần với nhóm hỗ trợ kỹ
thuật của Vmware hoặc biết chính xác những gì mình đang thực hiện.
Hình 11
Cơ sở dữ liệu
Khi cấu hình phần cơ sở dữ liệu (Database), chỉ định
mật khẩu cần thiết để truy cập cơ sở dữ liệu VirtualCenter. Bạn cũng có
thể thay đổi số kết nối cơ sở dữ liệu lớn nhất sẽ được tạo. Nếu thay
đổi tùy chọn này, bạn sẽ phải tự khởi động lại VC.
Hình 12
Các thiết lập SSL
Khi làm việc với SSL (hoặc Secure Sockets Layer),
bạn cần phải bảo đảm rằng VC được cấu hình để thực hiện như vậy. Cho ví
dụ, nếu bạn cấu hình tùy chọn này và tích vào hộp kiểm Check host
certificates, bạn cần bảo đảm rằng VC Server và VIC sẽ thẩm định sự xác
thực của các chứng chỉ SSL mà bạn chọn sử dụng. Để sử dụng, bạn cần
phải biết được cách sử dụng, làm việc và thay thế VirtualCenter Server
Certificates.
Hình 13
Các thiết lập nâng cao
Cuối cùng bạn có thể cấu hình các thiết lập nâng cao. Ở đây, bạn có thể add vào các hàng các khóa và giá trị.
Hình 14
Bạn có thể sử dụng trang Advanced Settings để thay
đổi file cấu hình VC Server, file mang tên vpxd.cfg. Có thể sử dụng SDK
để soạn thảo file này. File này không nên chỉnh sửa trừ khi bạn biết
chính xác những gì mình đang thực hiện. Bạn có thể sử dụng phần này để
bổ sung thêm các entry vào file vpxd.cfg, tuy nhiên nó không thể được
sử dụng để chỉnh sửa hoặc xóa chúng. Để bổ sung các thiết lập cấu hình,
kích Add Row để tạo một hàng trống. Việc phụ thuộc vào sự thay đổi nào
đó mà bạn thực hiện với file vpxd.cfg, sẽ phụ thuộc vào liệu bạn có cần
khởi động lại VC hay không.
Kết luận
Trong bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn
một số thay đổi về mặt cấu hình mà bạn có thể thực hiện đối với cấu
hình quản lý VirtualCenter. VMware VirtualCenter (hoặc VC) được sử dụng
cho việc quản lý tập trung nhiều máy chủ VMware ESX và giúp hỗ trợ việc
báo cáo, ghi chép, các dịch vụ quản lý khác cho môi trường ảo của bạn.
Văn Linh (\VirtualizationAdmin)
|
đăng 11:19 05-05-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Nếu
bạn có một máy ảo trên máy tính của bạn, có thể bạn muốn truy cập đến
máy ảo đó từ một máy tính khác. Ví dụ: Bạn có một máy ảo Ubuntu với
Apache chạy trên cổng 80, và bạn muốn xem những người khác trên mạng
của bạn truy cập đến website của bạn.
Chúng ta giả sử rằng máy ảo này dùng NAT, và đăng kí địa chỉ IP là 192.168.23.128.
Đầu tiên mở Manage Virtual Networks từ menu Start:

Nhấn vào thẻ NAT, sau đó nhấn Edit. Bạn sẽ thấy hộp thoại NAT Settings:

Nhấn nút Port Forwarding, và bạn sẽ thấy hộp thoại sau:

Bây giờ bạn sẽ thấy một màn hình mà chúng ta thực sự
cần. Chúng ta sẽ dùng cổng 8080 trên host. Điền vào địa chỉ IP cho máy
ảo Ubuntu, và cổng 80. Cổng này có thể là bất kì cổng nào.

Chúng ta có thể kiểm tra thử bằng cách vào http://localhost:8080 trên máy tính thật. Ngoài ra có thể thay thế localhost bằng địa chỉ IP của máy tính thật.
Ngọc Quang (Theo Howtogeek)
|
đăng 11:17 05-05-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Zack Stern
Các chuẩn Wi-Fi có
thể là một đối tượng hay thay đổi và còn nhiều lộn xộn, đặc biệt khi
các nhà sản xuất tham gia vào cuộc chiến những từ thông dụng liên quan
đến các tính năng mới nhất. Hãy bỏ qua hầu hết các thuật ngữ marketing
– đặc biệt như các thuật ngữ được đăng ký bản quyền. Bỏ qua các thành
phần không đó, chúng ta hãy đi xem những gì cần phải biết để chọn một
router không dây, cấu hình một mạng và bắt đầu tiến hành như thế nào.
Cách chọn router không dây
Ngày nay, bạn nên mua một router sử dụng chuẩn
802.11n. Tuy nhiên có một vài vấn đề ở đây đối với chuẩn này. Giao thức
Wi-Fi này có khả năng tương thích với các chuẩn 802.11g và 802.11b; do
đó nếu bạn hoặc một khách ghé thăm nào đó sử dụng một laptop được xây
dựng trên các công nghệ cũ hơn thì máy tính này sẽ làm việc với router
mới của bạn miễn là bạn cấu hình router cho phép nó. Các chi tiết kỹ
thuật 802.11n cho phép phạm vi phủ sóng (tầm với) xa hơn và truyền tải
dữ liệu nhanh hơn hai phương pháp Wi-Fi kia, tuy nhiên nó vẫn chưa nhận
được sự cấp phép như một chuẩn.
Các chi tiết kỹ thuật 802.11n cuối cùng được mong
đợi sẽ xuất hiện vào năm 2010, vì vậy về mặt kỹ thuật mà nói, bạn nên
mua một router có hỗ trợ công nghệ này. Tuy vẫn có thể các router hiện
hành sẽ không làm việc với chuẩn cuối cùng nhưng các công ty đồng thuận
với chuẩn 802.11n sẽ hỗ trợ vấn đề này. Họ sẽ phát hành một phần mềm
nâng cấp cho router để thích hợp với chi tiết kỹ thuật được phê chuẩn
cuối cùng.
Cũng là một cách làm tốt nếu chọn router hai băng
tần. Các router như vậy sẽ chia lưu lượng thành hai vùng phổ tần không
dây khác nhau, 2.4GHz và 5GHz. Sự sắp đặt này về cơ bản sẽ mở ra một
làn nữa cho việc truyền thông để từ đó mạng có thể quản lý được nhiều
dữ liệu hơn trong một thời điểm và cho tốc độ truyền tải nhanh hơn.
Nhiều router, chẳng hạn như Linksys Simultaneous Dual-N Band Wireless
Router (WRT610N), có thể chia lưu lượng trên hai SSID (service set
identifier), cho phép sử dụng các thiết bị 802.11b bảo mật thấp hơn và
chậm hơn. Các router khác, chẳng hạn như Netgear Rangemax Dual Band
Wireless-N Gigabit Router (WNDR3700) cho phép bạn cách ly lưu lượng
trên hai mạng không dây với nhau.
Bạn để một phần trong quyết định mua thiết bị của
mình vào các cổng của router. Mặc dù theo lý thuyết bạn có thể thiết
lập một hệ thống chỉ không dây, nhưng thực tế một mạng sẽ gồm sự trộn
lẫn của các thiết bị chạy dây và không dây. Tuy kết nối không dây có
nhiều ưu điểm nhưng các kết nối chạy dây sẽ vẫn là một tùy chọn về tốc
độ, đơn giản, khả năng tin cậy và bảo mật.
Nhiều router không dây vẫn có chuẩn 100Base-T
ethernet mà thay vì chuẩn cho tốc độ cao hơn (1000Base-T). Chính vì vậy
bạn nên tìm kiếm một mô hình kết hợp chặt chẽ tốc độ cao. Mục đích là
để sử dụng trong nhiều trường hợp yêu cầu đến lưu lượng đường truyền
tốt, ví dụ như luồng video độ nét cao, bạn có thể chia sẻ các file khác
mà không bị chậm. Để có được nhiều lợi thế, bạn phải sử dụng các máy
tính gigabit ethernet, tuy nhiên sau đó cũng cần phải nâng cấp các máy
khách 100Base-T vì chúng (ở đây là các máy khách 10Base-T) sẽ vẫn làm
việc với phần cứng nhanh hơn. Các router nhìn chung đều gồm có bốn
cổng. Bạn có thê chọn các router có số cổng nhiều hơn nếu cần hoặc sử
dụng Switch để tăng thêm số cổng.
Một số router có cả cổng USB. Tham khảo tài liệu về
mô hình chi tiết kỹ thuật, bạn sẽ cân nhắc sao cho thích hợp, ví dụ,
bạn có thể kết nối cổng USB với máy in hoặc phần cứng nào đó để làm cho
các thiết bị này kết nối được với mạng của bạn. Nếu các tính năng đó
phù hợp với những nhu cầu của bạn thì chi phí phụ thêm là hoàn toàn
chính đáng. Nếu không, tập trung vào các khả năng được thảo luận ở trên.
Nếu phạm vi là một vấn đề quan trọng trong cài đặt,
cần phải bảo đảm rằng bạn sở hữu một router có một cổng anten ngoài,
không dựa đơn thuần vào khoảng cách broadcast được quảng cáo trên đóng
gói bao bì. Có rất nhiều hệ số ảnh hưởng đến phạm vi của router, chẳng
hạn như cấu trúc của tòa nhà xung quanh và xuyên nhiễu từ các nguồn
phát gần đó. Nếu muốn phủ sóng cho toàn bộ ngôi nhà – hoặc sân sau –
bạn có thể mua một điểm truy cập thứ hai.
Cấu hình router
Hầu hết các router có kèm theo một đĩa cài đặt, tuy
nhiên chúng ta hãy để nó đấy và bạn hãy tự cấu hình router của mình
thông qua trình duyệt web. Các đĩa CD cài đặt thường mang lại nhiều
thuận tiện cho người mới vào nghề, nhưng bạn sẽ có thể truy cập vào các
tùy chọn cài đặt nâng cao khác thông qua giao diện trình duyệt. Thêm
vào đó là bạn có thể truy cập vào giao diện đó từ bất cứ máy tính nào
được kết nối mà không cần phải sử dụng đến đĩa cài đặt. Khi đã biết
cách cấu hình mạng thông qua trình duyệt, bạn sẽ tự tin hơn nếu có vấn
đề gì xảy ra với mạng của mình sau này. Quá trình chính xác sẽ tùy
thuộc vào thương hiệu nhà sản xuất hay giữa các modem, tuy nhiên các
tùy chọn menu trên hầu hết các hãng đi đầu đều khá giống nhau và đây là
cách thực hiện.
Để có được phạm vi lớn nhất, đặt router trên một giá
cao hoặc gắn nó vào một vị trí nào đó gần đỉnh của bức tường trung tâm.
Kết nối một cáp ethernet giữa modem băng thông rộng và router. Để bảo
đảm có được thông lượng chất lượng cao, hãy sử dụng Cat-5e hoặc các cáp
tốt cho tất cả các kết nối. Không nên chọn các loại cáp rẻ tiền. Kết
nối cáp ethernet thứ hai giữa một cổng LAN nào đó của router và máy
tính của bạn. Nếu bạn sử dụng laptop để cấu hình cho router của mình,
hãy ngắt cáp này ở cuối quá trình, đó là lúc bạn đã sẵn sàng cho kết
nối không dây.
Chi tiết đầu tiên bạn cần phải biết về router của
mình là địa chỉ IP của nó. Đôi khi địa chỉ này được in ra trên một điểm
nào đó trên router. Nếu không, bạn có thể tìm nó trong panel điều khiển
Windows Network Connections. Danh sách liệt kê Local Area Connection sẽ
hiển thị 'Connected', vì router của bạn sẽ xác lập mặc định DHCP
(dynamic host configuration protocol). Kích đúp vào kết nối này và chọn
tab Support. Nhớ hoặc ghi địa chỉ IP của Default Gateway. (Nó có thể là 192.168.1.1 hoặc 192.168.0.1).
Mở trình duyệt web và nhập địa chỉ IP của router vào
trường địa chỉ. Bạn sẽ được nhắc nhở về tên và mật khẩu. Tra cứu tài
liệu router được in để thu được các thông tin chi tiết.
Khi ở bên trong, bạn có thể điều khiển tất cả các
thiết lập router. Đầu tiên, thay đổi mật khẩu quản trị của router, vì
bất cứ ai cũng có thể truy cập vào router của bạn (và mạng) đơn giản
bằng cách nhập vào một loạt các đăng nhập mặc định vẫn được sử dụng.
Kiểm tra trong tab Administration, nơi bạn sẽ thực hiện sự thay đổi.
Nhập mật khẩu và sau đó lưu các thay đổi của bạn. Tiếp đó, bạn sẽ được
đưa ra màn hình đăng nhập; đăng nhập trở lại bằng mật khẩu mới của mình.
Tiếp đến, thay đổi địa chỉ IP và subnet bên trong.
Điều này sẽ cung cấp cho bạn thêm một lớp trung gian về bảo mật, tuy
nhiên quan trọng hơn nữa là nó sẽ giúp bạn tránh được việc xung đột địa
chỉ IP trên các mạng phức tạp. Vào vùng các thiết lập cơ bản và thay
đổi địa chỉ IP thành 192.168.x.1, ở đây x là một số nào đó nằm trong
khoảng 1 đến 254. Ghi số này ra một tờ giấy và lưu các thay đổi, đăng
nhập trở lại vào router, sử dụng địa chỉ IP mới như một URL (Bạn có thể
cần phải đợi một lúc trong khi router khởi động lại).
Lúc này hãy thay đổi SSID và kích hoạt tính năng mã
hóa Wi-Fi cho lớp bảo mật đầu tiên của bạn. Quan sát vùng cấu hình
không dây và các thiết lập bảo mật; vô hiệu hóa Fi Protected Setup nếu
cần. Thay đổi tên mạng thành một tên nào đó. Thêm vào đó, bạn có thể vô
hiệu hóa chế độ SSID Broadcast; hành động này có tác dụng như thêm một
lớp mỏng về khả năng bảo mật mở rộng, lý do chỉ đóng vai trò là một lớp
mỏng trong bảo mật ở đây là người dùng có kinh nghiệm có thể dễ dàng
tìm ra các mạng ẩn, tuy nhiên ít ra mạng của bạn cũng không xuất hiện
với bất cứ máy tính nào một cách mặc định. Nếu bạn sử dụng phần cứng
802.11n trên các máy tính và router, hãy kích hoạt 40MHz, quảng bá băng
thông rộng. (Vô hiệu hóa nó hoặc thiết lập ở chế độ tự động nếu bạn gặp
phải các vấn đề về mạng; có thể do xuyên nhiễu từ các mạng bên cạnh).
Kích nút Save để lưu các thay đổi.
Lưu lượng Wi-Fi không mật khẩu sẽ không được mã hóa,
điều đó có nghĩa rằng ai đó trong vùng lân cận mạng của bạn đều có thể
chặn và đọc dữ liệu của bạn. Bạn có thể khóa lỗ hổng này bằng cách kích
hoạt chế độ bảo mật WPA2 Personal, thường nằm trong tab Wireless
Security. Nhập vào một mật khẩu dài có sự kết hợp cả số lẫn các chữ cái
trong đó. Sau đó lưu các thay đổi mà bạn vừa tạo.
Nếu router của bạn hoặc thiết bị khách chỉ hỗ trợ
WPA hoặc WEP, bạn có thể sử dụng một trong các chuẩn đó thay vì. Cần
phải biết rằng cả hai chuẩn trên đều kém an toàn hơn WPA2. Một giải
pháp khác ở đây là bạn có thể sử dụng nhiều điểm truy cập hoặc một điểm
đơn nhưng có thể quảng bá đến nhiều SSID, sau đó đặt phần cứng có thể
bị rủi ro của bạn trên mỗi một mạng riêng biệt của nó.
Kết nối thiết bị khách
Các máy khách không dây thường có phần mềm cấu hình
từ công ty phần cứng Wi-Fi cũng như ứng dụng Windows Control Panel. Bạn
có thể kết nối các máy khách với chương trình của họ, tuy nhiên chúng
tôi sẽ tập trung vào công cụ Windows cung cấp.
Mở Network Connections Control Panel, kích chuột phải vào Wireless Network Connection. Chọn Properties. Sau đó chọn tab Wireless Networks, kích Add. Nhập vào SSID cho mạng và tích vào hộp kiểm có nhãn Connect even if this network is not broadcasting. Chọn WPA2 cho phần Network Authentication. Thiết lập phần Data encryption là AES, sau đó kích OK hai lần. Tiếp đó kích đúp vào Wireless Network Connection trong Control Panel và chọn mạng không dây. Kích Connect. Nhập vào mật khẩu mạng và kích Connect. Máy tính sẽ lưu mật khẩu và sau này nó sẽ kết nối lại một cách tự động.
Kiểm soát các kết nối khác bằng MAC Address Filtering
Có một lớp bảo mật phụ thêm được biết đến với tên
"address filtering", cách thức của nó là kiểm tra các thiết bị đã kết
nối với danh sách các mục được phép của bạn; sau đó, dù ai đó có mật
khẩu mạng nhưng router vẫn khôgn cho phép phần cứng không được phép này
truy cập vào mạng của bạn. Danh sách này dựa vào địa chỉ MAC duy nhất
được gán cho mỗi một thiết bị phần cứng ngay từ nhà máy sản xuất. Giống
như các lớp bảo mật khác, đây cũng là một lớp bảo mật không vững vàng.
Về mặt lý thuyết, các kẻ tấn công vẫn có thể thay đổi địa chỉ MAC của
chúng sau cho phù hợp với một trong các ID thân thiện của bạn. Tuy
nhiên một tấn công như vậy sẽ khó có thể thành công nếu bạn kết hợp cả
tính năng lọc địa chỉ MAC với các bước bảo mật ở trên.
Address filtering đòi hỏi thêm một bước phụ trong
quá trình kết nối các thiết bị mới với mạng của bạn, tuy nhiên khi thực
hiện xong bước này, bạn sẽ cảm thấy thanh thản hơn về góc độ bảo mật.
Mặc dù vậy, không được coi rằng address filtering tương đương với việc
mã hóa: Nó không thể ngăn chặn những kẻ cố tình muốn chặn và đánh cắp
sự truyền dẫn của bạn như những gì WPA2 làm được.
Để thực hiện, hãy kết nối tất cả các máy khách không
dây của bạn với mạng, sử dụng mật khẩu WPA2 của bạn. Nhớ nhóm các máy
tính, smart phone, các hệ thống giải trí không dây, phần cứng
media-streaming và các thiết bị được liên kết khác.
Vào lại trang cấu hình cho router không dây của bạn,
sau đó nhập mật khẩu quản trị để đăng nhập. Hãy tìm kiếm tùy chọn để
cấu hình MAC address filtering (đôi khi còn được gọi là "network
filtering"), hầu hết nằm bên trong vùng các thiết lập không dây của
router. Kích hoạt bộ lọc và thiết lập nó để chỉ cho phép các địa chỉ
MAC nào đó mới có thể truy cập vào mạng. Nhiều router có một nút để
hiện tất cả các thiết bị được kết nối và cho phép bạn thêm chúng một
cách tự động. Nếu không có kiểu router này, trước khi bạn kích hoạt bộ
lọc, hãy copy địa chỉ MAC từ bảng DHCP client; nó thường được liệt kê ở
đây, bên dưới Status (hoặc Wireless Status). Lưu các thay đổi và đợi
router khởi động lại nếu cần thiết.
Về sau này, bạn sẽ phải đánh các địa chỉ MAC cho bất
cứ thiết bị mới nào muốn truy cập mạng. Bạn có thể tra cứu nhanh một
địa chỉ MAC của một laptop nào đó bằng cách kích vào Start, Run, đánh cmd và nhấn OK. Sau đó đánh ipconfig /all và nhấn Enter. Tìm kiếm tập 6 cặp số và các ký tự trong vùng Wireless Network Configuration.
Bảo mật tường lửa
Router của bạn có thể cũng có một tường lửa gồm có
hai phần: network address translation (NAT) và stateful packet
inspection (SPI). Trong hầu hết các trường hợp, NAT đều được bật một
cách mặc định. Phương pháp định tuyến này cho phép lưu lượng Internet
kết nối với router bằng một địa chỉ IP ngoài; router điều khiển các máy
tính bên trong nào gửi và nhận các thông tin. SPI thực hiện sâu hơn một
chút, bảo đảm cho dữ liệu gửi đến sẽ đến được các yêu cầu từ các máy
tính bên trong. Bật tường lửa SPI trong trang cấu hình router của bạn
(thường nằm trong tab bảo mật). Khi SPI được kích hoạt, router sẽ bỏ
qua lưu lượng mà bạn không yêu cầu.
Đôi khi, các thiết lập này có thể khóa chặn lưu
lượng – chẳng hạn như một game hoặc một ứng dụng khác – bạn mong muốn.
Nếu bạn gặp phải vấn đề này với một số chương trình nào đó, hãy thay
đổi các thiết lập cổng chuyển tiếp (port-forwarding). Về bản chất,
chính là việc thêm một cổng mở rộng cho chương trình mà máy tính đang
khóa, và nhập vào địa chỉ IP cho PC đó. (Bạn có thể tìm thấy nhiều số
cổng hay được sử dụng trên mạng).
Sử dụng Switch để bổ sung thêm cổng
Rất ít khi các mạng gia đình cần nhiều hơn 4 cổng
ethernet như vẫn được thiết kế mặc định trên các router điển hình. Tuy
nhiên trong các mạng văn phòng cỡ nhỏ, số lượng các cổng có thể cần
nhiều hơn số lượng này. Các máy tính phụ và các máy in được trang bị
cho mạng có thể cần đến các cổng này. Thay vì việc mua nhiều router,
bạn có thể sử dụng một cách làm đơn giản và không đắt tiền ở đây là sử
dụng switch. Về mặt kỹ thuật, bạn có thể sử dụng các hub để phân chia
thêm nhiều cổng, tuy nhiên chúng ta sẽ gặp phải vấn đề về lưu lượng: do
các hub không thể phát và nhận một cách đồng thời các gói dữ liệu và dữ
liệu được phát quảng bá đến mọi máy. Kết quả là xảy ra hiện tượng xung
đột và cần phải gửi đi gửi lại nhiều lần một gói dữ liệu, điều đó làm
chậm tốc độ cho mạng của bạn. Thay vì sử dụng hub vì những nhược điểm
của nó như vậy, bạn nên sử dụng switch.
Switch có thể gửi và nhận dữ liệu tại cùng một thời
điểm. Bạn nên mua một switch có đủ số cổng cần thiết cho mình. Tuy
nhiên nếu bạn chạy dây ra khỏi phòng của mình, khi đó nên bổ sung thêm
một switch khác. Cách tốt nhất lúc này là bạn nên chọn một switch sử
dụng gigabit ethernet. Dù hiện sử dụng phần cứng 100Base-T nhưng bạn
vẫn có thể tăng tốc độ nhanh hơn với các thiết bị mới sau này. Tránh
các switch 10Base-T. Quá trình cài đặt hoàn toàn đơn giản: bạn chỉ cần
kết nối một cáp ethernet giữa router và switch, sau đó kết nối các
thiết bị mới đến các cổng còn lại của switch.
Mở rộng mạng không dây cho thiết bị chạy dây
Nếu sở hữu trong tay các thiết bị chỉ hỗ trợ
ethernet, trong đó bạn lại cần phải kết nối đến mạng của mình theo cách
không dây, trong trường hợp này bạn có thể sử dụng một cầu nối thay vì
một chuỗi các cáp. Phương pháp cầu không dây có thể làm việc rất tốt
với các thiết bị Xbox 360, TiVo hay các thiết bị chạy dây khác. Dưới
đây là cách thực hiện.
Quá trình cũng gần như cài đặt router không dây. Đầu
tiên bạn phải kết nối một máy tính trực tiếp đến cầu nối thông qua kết
nối ethernet (tạm thời vô hiệu hóa Wi-Fi của máy tính nếu cần). Do cầu
nối sẽ không phát quảng bá địa chỉ DHCP nhưng bạn vẫn cần phải cấu hình
các chi tiết ethernet của máy tính một cách thủ công. Mở Network
Connections Control Panel và kích phải vào Local Area Connection. Chọn Properties. Kích đúp Internet Protocol (TCP/IP), và chọn tùy chọn Use the following IP address.
Tra cứu tài liệu về cầu nối để xem địa chỉ nào nó sử
dụng mặc định. Nhập một địa chỉ IP với ba bộ số đầu tiên giống nhau
nhưng bộ số thứ tư khác nhau. Cho ví dụ Netgear 5GHz Wireless-N adapter
(WNHDE111) sử dụng mặc định là 192.168.0.241, chính vì vậy chúng ta cần
phải thiết lập địa chỉ IP cho máy tính là 192.168.0.2. (Bạn có thể chọn
bất cứ số nào từ 2 đến 254). Để lại Subnet mask là 255.255.255.0, từ
khi Windows đã gán nó bằng một số mới. Kích OK hai lần.
Nhập địa chỉ IP của cầu nối vào trình duyệt web, kết
nối đến trang cấu hình của nó. Cấu hình các thiết lập không dây của nó
sao cho phù hợp với các yêu cầu về mạng của bạn, áp dụng cùng chi tiết
SSID và các chi tiết mã hóa. Làm sao cầu có thể nhận các thông tin chi
tiết DHCP từ router.
Khởi động cầu nối và chuyển đổi máy tính trở lại
DHCP bằng cách mở Local Area Connection lần nữa trong Network
Connections Control Panel. Kích đúp vào Internet Protocol (TCP/IP)và kích nút Obtain an IP address automatically.
Nếu máy tính có thể online, bạn hãy ngắt cáp ethernet ra, sau đó cắm
cầu nối đến thiết bị chỉ chạy dây của bạn. Nếu bạn chạy hết số cổng,
hãy bổ sung thêm bằng một switch, như thể bạn sẽ nằm trên một đoạn chạy
dây trong mạng của mình.
|
|