Các bài viết về các hệ điều hành window
|
đăng 11:23 02-08-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Eric Geier
Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về cách thức làm việc và quản lý tính năng Libraries trong Windows 7.
Một trong những tính năng mới của Microsoft trong
Windows 7 – hệ điều hành được dự định phát hành vào cuối năm nay – có
tên gọi Libraries (Thư viện). Điểm mới trong tính năng này là
nó cho phép bạn tìm kiếm, xem và các tài liệu, file ảnh, file nhạc và
video của mình một cách nhanh chóng và dễ dàng. Thêm vào đó Libraries
còn có hỗ trợ thêm một số tính năng trong việc chia sẻ trên mạng. Ngoài
việc có thể chia sẻ các thư mục riêng như khi thực hiện trong các phát
hành Windows trước, trong tính năng mới này bạn còn có thể chia sẻ toàn
bộ Library.
Tìm hiểu về các Thư viện của Windows 7
Có thể nói rằng Libraries là các thư mục ảo. Bạn có
thể thêm các thư mục vào Libraries, sau đó có thể xem và truy cập các
nội dung của mỗi một thư mục được bổ sung từ cửa sổ của Library. Cần
biết rằng bản thân một Library không chứa các file vì chúng không phải
là các thư mục thực sự, tuy nhiên chúng sẽ cung cấp một cách thức truy
cập one-stop đến bộ các thư mục đó. Xem trong hình 1 để biết thêm về Documents Library mặc định.
Hình 1: Documents Library mặc định
Đây là một số cách bạn có thể sử dụng Libraries:
- Thêm thư mục được lưu rải rác trong các ổ đĩa
cứng vào Libraries. Cho ví dụ, nếu có một ổ đĩa cứng chuyên để chứa các
file nhạc, bạn có thể add nó vào Music Library. Một ví dụ khác: nếu có
các thư mục trên desktop, bạn cũng có thể add chúng vào các thư viện
thích hợp.
- Tạo các thư việc cho riêng bạn. Bạn có thể tạo
một thư viện mới để chứa các thư mục có liên quan đến một chủ đề nào đó
mà bạn dự định làm, sau khi hoàn thành xong công việc, bạn hoàn toàn có
thể xóa thư viện đó đi.
- Thêm các location mạng (các thư
mục chia sẻ từ các máy tính khác) vào các thư viện. Đây là một trường
hợp sử dụng rất thuận tiện nếu bạn làm việc trên nhiều máy tính. Cho ví
dụ, thay vì phải duyệt qua tất cả các thư mục chia sẻ của một máy tính
nào đó (hoặc các máy tính khác) để tìm các tài liệu Word cần thiết, bạn
có thể add thư mục Documents từ các máy tính vào thư viện Documents
Library. Sau đó khi muốn tìm một tài liệu nào, bạn chỉ cần mở thư viện
đó ra và có thể truy cập vào các file chia sẻ từ một cửa sổ.
Sử dụng các thư viện mặc định
Microsoft cung cấp cho bạn một số thư viện mặc định
có sẵn trong Windows: Documents, Music, Pictures và Videos. Mặc định,
các thư mục này sẽ được liên kết đến các thư mục riêng và thư mục chung
được add. Cho ví dụ, khi mở Documents Library, bạn sẽ thấy các nội dung
bên trong thư mục Documents (C:\Users\yourname\Documents) mà chỉ mình
bạn và quản trị viên mới có thể truy cập, hay thư mục Public Documents
(C:\Users\Public\Documents) mà mọi người đều có thể truy cập.
Các liên kết trên Start Menu, Windows Explorer, file
dialog,… cho Documents, Music, Pictures và Videos đều được trỏ đến
Libraries, tuy nhiên không có các thư mục riêng của bạn. Cho ví dụ
trong Windows XP và Vista, kích vào nút My Documents hoặc Documents
trên Start Menu bạn sẽ thấy thư mục tài liệu riêng.
Cần lưu ý rằng, các thư mục riêng và thư mục chung
mặc định vẫn được giữ lại trong Windows 7: tính năng Library chỉ hiển
thị các thư mục này trong một cửa sổ riêng. Thêm vào đó, việc bổ sung
một thư mục vào một thư viện sẽ không copy các file qua lại; nó chỉ
hiện cho bạn thấy nội dung bên trong.
Tạo các thư viện mới
Việc tạo một thư viện cho riêng bạn hoàn toàn đơn giản và dễ dàng. Bạn chỉ cần mở Computer, kích chuột phải vào biểu tượng Libraries phía bên trái và đưa chuột qua New, kích Library, xem thể hiện trong hình 2 bên dưới. Sau đó đặt tên cho nó, kích phải vào biểu tượng mới, kích Rename, và đánh vào đó tên của thư viện.
Hình 2: Tạo một thư viện cho riêng bạn
Thêm và bớt các thư mục trong một thư viện
Nếu bạn đã tạo xong một thư viện mới, lúc này rất có
thể nó chưa chứ một thư mục nào. Vì vậy để bổ sung vào đó một thư mục,
bạn hãy mở Library và kích nút Include a Folder. Sau đó hãy duyệt đến nơi bạn cần tìm và chọn thư mục cần thiết, kích nút Include Folder khi bạn chọn xong thư mục của mình.
Để thêm các thư mục khác vào một thư viện, bạn có thể mở Library và kích vào liên kết Includes
ở góc trên bên phải, xem thể hiện trong hình 3. Như những gì thể hiện
trong hình 4, hộp thoại Library Locations xuất hiện. Để bớt đi một thư
mục nào đó, hãy chọn thư mục cần bớt và kích Remove. Để thêm vào một thư mục, bạn hãy duyệt đến thư mục cần thêm và chọn nó, sau đó kích nút Include Folder.
Hình 3: Tạo các thư mục bổ sung trong thư viện
Hình 4: Bớt một thư mục nào đó trong thư viện
Cũng như nhiều tính năng khác của Windows, bạn có nhiều cách để có thể quản lý các thư viện của mình. Mở Computer, kích phải vào biểu tượng Library phía bên trái và kích Properties. Thao tác này sẽ làm xuất hiện trang thuộc tính của thư viện, xem thể hiện trong hình 5 bên dưới.
Hình 5: Việc quản lý thư viện của bạn
Thay đổi thư mục được lưu mặc định cho thư viện
Khi bạn muốn lưu một file nào đó, bạn có thể chọn
một Library để lưu nó vào trong. Mặc dù vậy các thư viện không có các
location thực, do đó file mà bạn muốn lưu sẽ được lưu vào một thư mục
mặc định nào đó. Các thư viện mặc định đều được thiết lập để có thể lưu
các file trong một thư mục riêng, chẳng hạn như My Documents thay vì Public Documents. Tuy nhiên bạn có thể thay đổi thư mục mặc định này. Để thực hiện điều đó, hãy kích vào liên kết Includes ở phía trên bên phải Library. Sau đó trên hộp thoại, kích chuột phải vào thư mục mong muốn, chọn Set as Default Save Location và kích OK. Nếu thích sử dụng hộp thoại thuộc tính của thư viện, bạn có thể thực hiện các bước tương tự như vậy.
Nếu sau này muốn lưu file vào một thư mục khác của
thư viện, bạn có thể mở rộng các thư mục của library để chọn thư mục
mình muốn lưu, xem thể hiện trong hình 6. Vị trí lưu sẽ được sử dụng
nếu bạn chọn Library khi lưu. Thêm vào đó, nếu bạn kéo hoặc copy một
file vào thư viện, nó sẽ được hướng đến vị trí lưu đã được chỉ định.
Nếu không muốn location mặc định này, bạn có thể mở rộng cây Library để
xem các thư mục trong đó, hoặc có thể kéo hoặc copy một cách cẩn thận
file nằm bên dưới thư mục trong cửa sổ Library chính.
Hình 6: Mở rộng thư mục của thư viện
Kết luận
Cho đến đây chắc các bạn đã hiểu được sự hữu dụng
của tính năng Library mới trong Windows 7. Những gì bạn cần biết qua
bài này đó là cách sử dụng các thư viện mặc định như thế nào, cách tạo
chúng ra sao cũng như việc thêm và bớt các thư mục bên trong chúng như
thế nào. Thêm vào đó bạn cũng cần phải hiểu cách thay đổi vị trí lưu
mặc định cho các thư viện như thế nào.
Văn Linh (Theo Informit)
|
đăng 11:22 02-08-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Windows Media Center lần đầu tiên ra mắt trong một ấn bản đặc biệt của Windows
XP. Nhưng chỉ đến khi hai ấn bản Home Premium và Ultimate của hệ điều
hành Windows Vista được tung ra thì ứng dụng này mới được nhiều người
dùng biết đến.
Windows Media Center vẫn được giữ trên Windows 7, và nó còn được tích
hợp trên ấn hai bản Business và Enterprise. Tuy nhiên, khi được tích
hợp vào Windows 7, Windows Media Center đã được cải tiến rất nhiều với
giao diện mới và bổ sung, cải tiến nhiều tính năng.
1. Khởi chạy tác vụ từ menu Start
Trong những phiên bản Windows Media Center trước đó, người dùng phải
khởi chạy Media Center sau đó bật tác vụ mong muốn (như xem Live TV,
Recorded TV hay Program Guide). Windows 7 đã giảm đi một số thao tác
trong quá trình khởi động cho phép người dùng chọn một tác vụ trực tiếp
trên menu Start của Windows.
Sau khi di con trỏ lên Windows Media Center trong menu Start,
bạn sẽ thấy một mũi tên bên cạnh, click vào mũi tên đó bạn sẽ thấy danh
sách tác vụ thường sử dụng và những tác vụ ít được sử dụng trong menu
phụ. Và bạn chỉ cần chọn ra một tác vụ mong muốn.
2. Windows Media Center Desktop Gadget
Windows Media Center của Windows 7 tích hợp một công cụ mới khác là
Windows Media Center Desktop Gadget cho phép người dùng theo dõi những
chương trình trên Media Center. Nó hiển thị chương trình truyền hình
mới được ghi lại (click vào tên chương trình để xem đầy đủ thông tin),
những chương trình thường xem, chương trình tin tức, thể thao, thể loại
âm nhạc, … Ngoài ra bạn cũng có thể chạy chương trình đã được ghi lại,
chương trình Internet, hay nhạc trực tiếp từ giao diện Gadget.
Để cài đặt Gadget, phải chuột vào vùng trống trên Desktop, chọn Gadgets, sau đó chọn Windows Media Center từ danh sách Gadget hiện có.
Bạn cũng có thể thực hiện cài đặt số lượng bản ghi chương trình truyền
hình mới, số lượng chương trình Internet cho mỗi kênh, kênh hiển thị và
thời gian chuyển đổi giữa các chương trình.
3. Internet TV
Với tính năng Internet TV mới được tích hợp trên Windows Media
Centercủa Windows 7, bạn vẫn có thể xem nhiều kênh truyền hình ảo mà
không cần cài đặt bộ chỉnh kênh TV trên máy tính. Từ những kênh ảo này
bạn có thể xem rất nhiều chương trình thông dụng với đầy đủ thể loại,
như: chương trình truyền hình, phim, thể thao, tin tức, âm nhạc, …
Dịch vụ Internet TV được hỗ trợ bởi quảng cáo vì vậy mà nó hoàn toàn
miễn phí. Những kênh Internet mặc định sẽ được hiển thị trong Guide.
Nếu đã cài đặt và hiệu chỉnh một bộ chỉnh kênh, những kênh Internet sẽ
được hiển thị ở cuối danh sách kênh của các nhà cung cấp dịch vụ truyền
hình.
4. Giao diện chơi nhạc mới
Windows Media Center có một giao diện chơi nhạc hoàn toàn mới. Giờ đây,
hình ảnh của album sẽ hiển thị như một background cuộn hiển thị phía
sau thông tin của bài hát đang chơi.
5. Chơi Game trên Windows Media Center
Bạn cũng có thể khởi chạy các game của Windows từ bên trong Media Center vì Extras Library cũng chứa các game của Windows 7 và bạn chỉ cần click vào biểu tượng của chúng để chơi.
6. Thông tin Guide chi tiết hơn
Khi click vào một chương trình trong Guide, bạn
sẽ nhận được một hộp thoại cung cấp cho bạn nhiều thông tin và tổ chức
các chương trình tốt hơn. Và còn có một trang tóm tắt mà bạn có thể sử
dụng để ghi lại chương trình đó hay cài đặt cho Windows Media Center
ghi lại toàn bộ chương trình.
Bạn cũng có thể lựa chọn những chương trình khác trên phần đầu của hộp thoại. Ví dụ, nếu lựa chọn mục Other Showings,
bạn sẽ có lịch phát sắp tới của các chương trình vì vậy bạn có thể chọn
những chương trình để ghi lại. Ngoài ra còn có một tùy chọn để xem danh
sách diễn viên và nhóm thực hiện chương trình.
7. Music Favorites và Picture Favorites
Trong hai mục Music và Pictures+Videos, bạn sẽ thấy có một tùy chọn mới là Play Favorites. Nếu lựa chọn tùy chọn này trong Pictures+Videos thì một slideshow sẽ khởi chạy những hình ảnh yêu thích của bạn.
Tùy chọn này nằm trong danh sách tùy chọn Tasks. Tương tự bạn cũng có thể cài đặt những bản nhạc yêu thích trong Tasks\ Music Settings.
Trong khi cài đặt bạn có thể sử dụng một danh sách cụ thể, những bài
hát được xếp hạng cao, những bài hát được chơi nhiều nhất, hay những
bài hát được bổ sung từ tháng trước.
8. Giao diện Pictures Browser
Windows Media Center trong Windows 7 sử dụng những thư viện tính năng
mới của hệ điều hành này để tìm ảnh, âm nhạc và video. Khi mở thư viện
ảnh trong Windows Media Center, bạn sẽ thấy những bức ảnh được lưu
trong Picture Library.
Nếu để ý kỹ hơn bạn sẽ thấy một vài ảnh thực ra chỉ tượng trưng cho những foler trong P icture Library.
Và bạn có thể click vào ảnh đại diện để xem tất cả ảnh có trong folder
đó. Thực hiện sắp xếp ảnh cũng rất dễ dàng với công cụ này, bạn có thể
sắp xếp theo folder, tag, ngày, xếp hạng, slideshow, hay trạng thái
chia sẻ.
9. Trình tạo Slideshow
Trình tạo Slideshow mới trong Windows Media Center cho phép người dùng
tạo nhiều Slideshow với những chủ đề khác nhau. Bạn chỉ cần click vào Slide Show\ Create Slide Show sau
đó chọn ảnh từ thư viện, ngoài ra bạn cũng có thể chèn nhạc vào
Slideshow. Sau khi thực hiện xong, click vào tên của Slideshow trong
danh sách, một hộp thoại sẽ hiện ra cùng với thumbnail của mỗi ảnh
trong Slideshow đó và hộp thoại này còn cung cấp cho bạn tùy chọn chạy
Slideshow.
10. Leagues
Nếu là một fan thể thao cuồng nhiệt, bạn sẽ rất hứng thú với tính năng
mới này của Windows Media Center trong Windows 7. Windows Media Center
cung cấp một tùy chọn mới trong mục Sports có tên Leagues, cho phép
người dùng sắp xếp các trận đấu theo từng giải, như: NFL, MLB, NBA, …
|
|
Xian (Theo TechRepublic) |
|
đăng 11:20 02-08-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Windows 7 đã nhận được rất nhiều chú ý kể từ khi Microsoft tuyên bố phát triển. Sở dĩ Windows
7 nhận được nhiều quan tâm là do người dùng đang mong đợi một hệ điều
hành mới, với nhiều thay đổi từ thiết kế giao diện cho tới tính năng
của nó.
Bài viết này sẽ giới thiệu về một số công cụ mới và một số công cụ được
cải tiến từ các phiên bản Windows trước được tích hợp trong Windows 7.
1. Action Center
Công cụ này cho phép người dùng có thể giải quyết các vấn đề bảo mật,
gỡ rối và khôi phục thay vì phải tìm kiếm từng công cụ thực hiện một
chức năng riêng lẻ như trước đây. Công cụ này là một ứng dụng rất dễ sử
dụng nằm trong Control Panel, nơi người dùng thực hiện bảo trì, nhận thông báo bảo mật, và có thể xem thông tin thi hành, thay đổi cài đặt UAC, …
Thực chất Action Center được nâng cấp từ Security Center
trong Windows Vista. Nó kết hợp các tiến trình và cài đặt bảo mật với
khôi phục và bảo trì hệ thống. Action Center cũng xuất hiện dưới một
biểu tượng trên khay hệ thống, và mỗi khi có vấn đề phát sinh trên biểu
tượng này sẽ xuất hiện dấu X mầu đỏ.
Một tính năng khác của công cụ này đó là nó giúp người dùng có thể tắt
hay bật nhiều loại thông báo, do đó, nếu bạn cài đặt một chương trình
diệt virus mà Windows không nhận ra, bạn cũng không phải thấy những
thông báo khuyên bạn nên cài một chương trình để bảo vệ máy tính. Bạn
chỉ cần tắt bỏ thông báo bảo vệ virus.
2. Problem Steps Recorder
Một trong những công cụ mới đáng chú ý nhất của Windows 7 đó là Problem
Steps Recorder. Nó cung cấp hỗ trợ công nghệ cho người dùng Windows.
Trong một số trường hợp người dùng không thể mô tả chính xác lỗi gặp
phải hay các bước họ thực hiện trước và sau khi phát hiện lỗi. Chắc
hẳn, Remote Assistance
có thể là một công cụ hoàn hảo trong những tình huống này. Tuy nhiên
bạn không thể kết nối thường xuyên vào máy tính của người dùng trong
thời gian thực. Đó là lí do vì sao Problem Step Recorder trở nên hữu
dụng hơn.
Thực ra, Problem Step Recorder là một chương trình chụp màn hình ghi
lại mọi hoạt động trên hệ thống từ những thao tác nhỏ nhất như gõ phím
hay click chuột, … và lưu vào một trang MHTML cùng với ảnh chụp của từng thao tác.
Chạy công cụ này bằng cách nhập lệnh psr.exe vào hộp Search của menu Start hay nhập trực tiếp vào dấu nhắc lệnh. Bạn cũng có thể xem những bước được ghi lại trong IE bằng cách click đúp vào file MHTML.
3. ISO Burner
ISO Image là một dạng file lưu trữ thường được sử dụng
để phân phối phần mềm. Trong Windows 7, Microsoft đã bổ sung nhiều tính
năng cần thiết cho người dùng. Giờ đây bạn sẽ không phải tải và cài đặt
một chương trình nhóm ba để ghi một file ISO ra đĩa.
Thao tác ghi cũng rất đơn giản. Sau khi tải một file .ISO xuống ổ đĩa cứng, bạn chỉ cần click đúp vào nó và Windows 7 sẽ mở hộp thoại Burn Disc Image. Công cụ này cũng làm việc trên ảnh với file mở rộng .IMG.
4. Biometric Device Management
Trong những phiên bản Windows trước đây, việc quản lý và thẩm định
quyền các thiết bị sinh trắc yêu cầu sử dụng một chương trình nhóm ba,
tuy nhiên chương trình này không phải lúc nào cũng tương hợp với hệ
điều hành. Giờ đây bạn sẽ không còn gặp phải những vấn đề này nữa vì
Windows 7 tích hợp Windows Biometric Framework cung cấp cho người phát
triển một API
(hệ giao tiếp lập trình ứng dụng) để đưa sinh trắc vào trong ứng dụng.
Những nhà sản xuất thiết bị nhận dạng vân tay (như UPEK và AuthenTec)
đã hợp tác với Microsoft phát triển công cụ này. Những thiết bị sinh
trắc được quản lý thông qua một ứng dụng trong Control Panel.
5. Credential Manager
Đây là một công cụ hoàn toàn mới trong Windows 7. Credential Manager khá giống với công cụ quản lý mật khẩu trong ứng dụng User Accounts
của Vista nhưng nó tinh vi hơn nhiều. Người dùng có thể quản lý chứng
nhận Windows của nhiều máy tính khác nhau mà họ đăng nhập vào, và nhiều
chứng nhận khác (như tài khoản email, tài khoản web, …). Tất cả những
chứng nhận này theo mặc định được lưu trữ trong Windows Vault.
Có lẽ tính năng mới đáng chú ý nhất của Credential Manager là khả năng backup và restore Vault.
Tuy nhiên, Microsoft khuyên người dùng nên backup mọi giấy phép vào một
ổ đĩa di động (như USB) để dễ dàng khôi phục trong trường hợp ổ cứng bị
lỗi.
6. Display Projection và Windows Mobility Center
Nếu bạn thường xuyên phải thuyết trình chắc chắn bạn sẽ cần đến công cụ
mới này của Windows 7, nó giúp kết nối màn hình của máy Windows 7 vào
một máy chiếu một cách dễ dàng. Bạn chỉ cần nhấn tổ hợp phím [Windows+P] để mở hộp trình đơn.
Cài đặt đầu tiên (được đặt mặc định) chỉ hiển thị trên màn hình máy
tính. Cài đặt thứ hai đưa hiển thị trên màn hình máy tính sang máy
chiếu. Cài đặt thứ ba mở rộng màn hình sang cả màn hình máy tính và máy
chiếu. Và cài đặt thứ tư chỉ hiển thị trên máy chiếu và tắt màn hình
máy tính.
Nhấn tổ hợp phím [Windows+X] để mở Windows Mobility Center và bạn có thể bật chế độ Presentation.
Công cụ này sẽ tắt chế độ bảo vệ màn hình, cài hình nền về chế độ trung
tính và thậm chí chuyển trạng thái nhận tin nhắn của bạn thành “do not disturb” (không làm phiền).
7. Công cụ hiệu chỉnh văn bản và mầu sắc
Bạn luôn làm việc bên máy tính, và hàng ngày bạn phải chăm chú vào màn
hình. Bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu màn hình của bạn hiển thị không tốt?
Chắc chắn bạn sẽ không thể tập trung được vào công việc và thậm chí còn
gây cảm giác mệt mỏi. Điều này sẽ không còn là vấn đề với bạn nữa vì
Windows 7 tích hợp hai công cụ điều chỉnh cho phép bạn tùy chỉnh màn
hình theo ý muốn.
Bạn có thể mở công cụ ClearType Text Tuner trong Control Panel hay dùng lệnh cttune.exe.
Nếu sử dụng nhiều màn hình bạn có thể tùy chỉnh cho từng màn hình một.
Công cụ này cung cấp nhiều lựa chọn và bạn có thể lựa chọn ra tùy chọn
phù hợp nhất.
Hơn nữa, Windows 7 còn cung cấp một công cụ chỉnh mầu sắc. Bạn có thể mở công cụ này trong Control Panel hoặc dùng lệnh dccw.exe. Công cụ này giúp điều chỉnh gam mầu, độ sáng, độ tương phản và mầu sắc hiển thị trên màn hình để có chất lượng tốt nhất.
8. System Repair Disc
Phiên bản thử nghiệm Vista SP1 đã tích hợp một công cụ này cho phép
người dùng dễ dàng tạo một đĩa sửa hệ thống với giao diện đồ họa thân
thiện nhưng nó đã bị gỡ bỏ trong phiên bản chính thức của SP1. Windows
7 đã khôi phục lại công cụ này. Bạn chỉ cần gõ cụm từ System Repair vào hộp Search, sau đó click vào Create A System Repair Disc, và hộp thoại Create A System Repair Disc sẽ hiên ra:
Để sử dụng, bạn phải đưa đĩa vào ổ CD/DVD và khởi động từ ổ đĩa đó
(phải thực hiện cài đặt ổ CD/DVD là thiết bị khởi động chính trong
BIOS). Sau đó bạn sẽ thấy một danh sách tùy chọn khôi phục hệ thống,
gồm:
- Windows memory diagnostic
9. Tiện ích Backup
Trong các phiên bản trước đó cũng đã tích hợp tiện ích backup, nhưng
công cụ này đã được cải tiến rất nhiều trong Windows 7. Chương trình
backup của Vista thân thiện với người dùng nhưng lại không linh hoạt.
Windows 7 cung cấp cho người dùng nhiều quyền kiểm soát hơn với những
đối tượng backup.
Bạn có thể chạy ứng dụng Backup And Restore trong Control Panel hay gõ Backup vào hộp Search trong menu Start.
File có thể được backup sang một đĩa cứng trên máy, sang ổ đĩa di động,
ổ DVD hay một máy tính khác trong mạng. Sau đó bạn có thể lựa chọn để
backup cả thư viện hay những folder riêng lẻ, và cũng có thể loại bỏ
những folder cụ thể trong quá trình backup.
10. PowerShell v2
Windows PowerShell là một giao diện Shell dạng dòng lệnh. Công cụ này cho phép admin Windows dễ dàng tự động hóa tác vụ bằng lệnh cmdlets (những lệnh này thực hiện những tác vụ riêng lẻ) và những tập lệnh (được tạo nên từ nhiều lệnh cmdlets để thực hiện các tác vụ phức tạp hơn).
Những phiên bản trước của Windows cũng tích hợp một trình thông dịch dòng lệnh ( command.com hay cmd.exe), nhưng PowerShell mạnh hơn rất nhiều, nó cung cấp một môi trường lệnh giống UNIX có thể tự động hóa hầu hết tính năng của GUI.
PowerShell có thể chạy trên Windows XP hay Vista,
nhưng Windows 7 là hệ điều hành dành cho máy trạm đầu tiên tích hợp
công cụ này (nó cũng được cài đặt mặc định trong Windows Server 2008
R2). PowerShell phiên bản 2 bổ sung thêm khoảng 240 lệnh cmdlets mới cũng như nhiều API và tính năng mới, như khả năng chạy tập lệnh PowerShell và cmdlets trên một máy tính từ xa.
Xian (Theo TechRepublic)
|
đăng 11:19 02-08-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
John Policelli
Trong Windows
Server 2008 R2 có một tính năng khá mạnh trong việc khôi phục các đối
tượng từ Active Directory đó là Active Directory Recycle Bin. Trong bài
viết chúng tôi sẽ cùng các bạn đi tìm hiểu về tính năng này và cách sử
dụng nó như thế nào.
Windows Server 2008 R2 có một tính năng Active
Directory Recycle Bin mới, đây là tính năng mà bạn có thể sử dụng để
“undo” những gì bị xóa do vô tình cho cả Active Directory Domain
Services (AD DS) và Active Directory Lightweight Directory Services (AD
LDS). Active Directory Recycle Bin cho phép bạn khôi phục các đối tượng
đã bị xóa do vô tình cách nhanh chóng và giảm thời gian chết trong việc
mất dữ liệu.
Để sử dụng Active Directory Recycle Bin, môi trường
của bạn cần phải có đủ các điều kiện tiên quyết. Khi có đủ các tiêu
chuẩn này bạn cũng vẫn cần phải thực hiện một số kế hoạch vì việc sử
dụng Active Directory Recycle Bin sẽ hạn chế việc sử dụng một số tính
năng khác.
Bài viết này sẽ giới thiệu cho các bạn về cách thức
làm việc của Active Directory Recycle Bin như thế nào, khi nào bạn có
thể sử dụng và không thể sử dụng nó, cách thực hiện các nhiệm vụ có
liên quan đến Active Directory Recycle Bin như thế nào. Bạn sẽ rất cần
đến các thông tin này vì Active Directory Recycle Bin thực sự không có
giao diện đồ họa thân thiện người dùng.
Các điều kiện tiên quyết
Active Directory Recycle Bin yêu cầu mức chức năng
forest của Windows Server 2008 R2, nghĩa rằng tất cả các bộ điều khiển
miền (domain controller) trong forest đều đã được cài đặt Windows
Server 2008 R2 và tất cả các miền trong forest đều có mức chức năng
domain của Windows Server 2008 R2.
Active Directory Recycle Bin là một tính năng forest
rộng mạng tính tùy chọn, có thể sử dụng cho tất cả các miền trong
forest khi được kích hoạt. Tính năng này bị vô hiệu hóa mặc định cho dù
mức chức năng forest được thiết lập là Windows Server 2008 R2. Bạn có
thể kích hoạt Active Directory Recycle Bin bằng cách sử dụng lệnh
Enable-ADOptionalFeature có trong Active Directory Module for Windows
PowerShell trong Windows Server 2008 R2.
Trước khi kích hoạt Active Directory Recycle Bin, bạn hãy chú ý rằng: Khi đã bật Active Directory Recycle Bin, tính năng này sẽ không thể vô hiệu hóa. Bạn
có thể không thấy những vấn đề gặp phải đối với hạn chế này, tuy nhiên
nó sẽ ngăn không cho bạn sử dụng các tính năng mới khác trong Windows
Server 2008 R2, ví dụ như khả năng “roll back” (hành động nhằm đưa trở
về trạng thái trước đó) hoặc hạ thấp các mức chức năng domain và
forest. Hai tính năng này thường loại trừ lẫn nhau: Để “roll back” hoặc
hạ thấp các mức chức năng, tất cả các tính năng tùy chọn của Active
Directory phải được vô hiệu hóa. Sự trớ trêu ở đây là Active Directory
Recycle Bin chỉ là một tính năng mang tính tùy chọn và không thể vô
hiệu hóa khi đã được kích hoạt. Chính vì vậy, bạn sẽ không thể “roll
back” hoặc hạ thấp các mức chức năng nếu đã kích hoạt Active Directory
Recycle Bin.
Cách làm việc của Active Directory Recycle Bin.
Bằng cách kích hoạt Active Directory Recycle Bin,
bạn sẽ thay đổi một cách có hiệu quả chu trình (lifecycle) cho các đối
tượng AD DS. Để tìm hiểu rõ về cách làm việc của Active Directory
Recycle Bin, chúng ta hãy xem xét đến chu trình của các đối tượng AD DS
sau khi Active Directory Recycle Bin được kích hoạt (xem trong hình 1)
Hình 1: Chu trình của đối tượng AD DS khi Active Directory Recycle Bin được kích hoạt
Như những gì thể hiện trong hình 1, có bốn trạng
thái trong một chu trình của đối tượng AD DS sau khi Active Directory
Recycle Bin được kích hoạt:
- Live
- Deleted
- Recycled
- Physically Deleted
Chúng ta hãy đi xem xét vắn tắt về các trạng thái này.
Trạng thái Live
Khi một đối tượng AD DS nằm trong thư mục, lúc này nó được coi như đang ở trạng thái Live.
Trạng thái Deleted
Khi một đối tượng AD DS bị xóa khỏi thư mục, đối
tượng sẽ được chuyển sang trạng thái Deleted. Ở trạng thái này, đối
tượng đã bị xóa logic ra khỏi thư mục. Sự xóa bỏ logic được định nghĩa
dưới đây:
- Các thuộc tính được bảo tồn
- Tên riêng của đối tượng bị đọc sai.
- Đối tượng được chuyển vào mục các đối tượng đã xóa Deleted Objects.
Đối tượng AD DS được duy trì ở trạng thái Deleted
này trong suốt quãng thời gian tồn tại của đối tượng đã xóa. (Số lượng
có thể được cấu hình; mặc định trong Windows Server 2008 R2 là 180
ngày). Khi một đối tượng ở trạng thái Deleted, bạn có thể đưa chúng trở
về trạng thái Live trước đó bằng cách sử dụng Active Directory Recycle
Bin và thực hiện một hành động khôi phục xác thực.
Trạng thái Recycled
Khi thời gian tồn tại của một đối tượng bị xóa vượt
quá thời hạn cho phép, đối tượng AD DS sẽ bị chuyển sang trạng thái
Recycled. Bước chuyển từ trạng thái Deleted sang trạng thái Recycled
được thực hiện hoàn toàn tự động bởi hệ thống, hủy bỏ hầu hết các thuộc
tính của đối tượng.
Số lượng thời gian sống của đối tượng trong trạng
thái này cũng có thể cấu hình; mặc định là 180 ngày. Khi một đối tượng
nằm trong trạng thái Recycled, đối tượng sẽ không thể được khôi phục
bằng Active Directory Recycle Bin.
Trạng thái Physically Deleted
Khi thời gian sống của đối tượng trong trạng thái
Recycled hết hạn, quá trình thu thập rác sẽ xóa đối tượng này ra khỏi
cơ sở dữ liệu.
Sử dụng Active Directory Recycle Bin
Việc xóa một đối tượng nào đó do vô tình rất có thể
xay ra. Bằng vài kích chuột bạn có thể vô tình xóa đến hàng trăm hay
thậm chí hàng ngày đối tượng. Viễn cảnh đó thật là tồi tệ, tuy nhiên
Active Directory Recycle Bin có thể cho phép bạn chuộc lại lỗi lầm của
mình.
Các phần dưới đây sẽ cung cấp các thông tin chi tiết
về cách kích hoạt Active Directory Recycle Bin, cách xem các đối tượng
trong trạng thái Deleted và cách khôi phục các đối tượng bị xóa do vô
tình.
Kích hoạt Active Directory Recycle Bin
Active Directory Recycle Bin là một tính năng không
mang tính bắt buộc, tuy nhiên bạn cần phải kích hoạt nếu muốn sử dụng
nó. Bạn có thể kích hoạt tính năng này bằng cách sử dụng Active
Directory Module for Windows PowerShell. Như đã đề cập từ trước, phải
cần đến mức chức năng forest của Windows Server 2008 R2.
Các bước dưới đây sẽ mô tả chi tiết quá trình kích hoạt Active Directory Recycle Bin:
- Đăng nhập vào domain controller cho phép bạn thay đổi.
- Kích Start > All Programs > Administrative Tools > Active Directory Module for Windows PowerShell.
- Trong
cửa sổ Active Directory Module for Windows PowerShell, đánh vào lệnh
dưới đây, thay thế phần domain.local trong lệnh này bằng tên thích hợp:
Enable-ADOptionalFeature 'Recycle Bin Feature' -scope ForestOrConfigurationSet -Target 'domain.local'
- Nhấn Enter.

Hình 2: Kích hoạt tính năng Active Directory Recycle Bin
- Như thể hiện trong hình 2, bạn sẽ được
nhắc nhở bằng một thông báo xác nhận, thông báo này cảnh báo bạn rằng
sự thay đổi này chỉ mang tính một chiều (không thể thay đổi ngược lại).
Nếu bạn chắc chắn rằng mình muốn tiếp tục, hãy đánh Y và nhấn Enter.
Active Directory Module for Windows PowerShell sẽ
không báo cáo sự thay đổi thành công, không có sự kiện nào được ghi lại
trong bản ghi sự kiện để mách bảo bạn rằng tính năng Active Directory
Recycle Bin đã được kích hoạt. Tuy nhiên bạn có thể sử dụng lệnh
Get-ADOptionalFeature để thẩm định rằng tính năng này đã được kích hoạt
thành công.
Để thẩm định trạng thái của tính năng Active Directory Recycle Bin, hãy thực hiện theo các bước dưới đây:
- Đăng nhập vào domain controller.
- Kích Start > All Programs > Administrative Tools > Active Directory Module for Windows PowerShell.
- Trong cửa sổ Active Directory Module for Windows PowerShell, hãy đánh vào lệnh dưới đây:
Get-ADOptionalFeature 'Recycle Bin Feature'
- Nhấn Enter. Như những
gì thể hiện trong hình 3, cửa sổ sẽ hiển thị trạng thái của tính năng
Active Directory Recycle Bin. Những thông tin quan trọng được chứa
trong phần EnabledScopes, đây là phần liệt kê danh sách các partition
mà Active Directory Recycle Bin đã được kích hoạt.
Hình 3: Thẩm định trạng thái của Active Directory Recycle Bin
Xem các đối tượng đã xóa
Khi Active Directory Recycle Bin được kích hoạt, bạn
có thể sử dụng một trong hai công cụ dưới để xem các đối tượng đã bị
xóa và được đặt vào mục Deleted Objects:
- Tiện ích ldp.exe Lightweight Directory Access Protocol (LDAP)
- Active Directory Module for Windows PowerShell
Xem Deleted Objects bằng tiện ích ldp.exe
Để xem các đối tượng đã xóa bằng tiện ích ldp.exe, hãy thực hiện các bước sau:
- Đăng nhập vào một domain controller.
- Kích Start > Run, đánh ldp.exe, sau đó kích OK.
- Trên menu Connection, chọn Connect.
- Trong hộp thoại Connect (xem trong hình 4), đánh vào tên và domain controller trong forest root domain và kích OK.

Hình 4: Hộp thoại Connect
- Trên menu Connection, chọn Bind.
- Trong hộp thoại Bind (xem trong hình 5), chọn tùy chọn "Bind as currently logged on user" hoặc "Bind with credentials". Nhập vào các tiêu chuẩn, sau đó kích OK.

Hình 5: Hộp thoại Bind
- Trên menu View, chọn Tree.
- Trong hộp thoại Tree View (xem trong hình 6), nhập vào tên riêng của forest root domain, sau đó kích OK.

Hình 6: Hộp thoại Tree View
- Trên menu Options, chọn Controls
- Trong hộp thoại Controls (xem trong hình 7), mở danh sách Load Predefined và chọn Return deleted objects, sau đó kích OK.

Hình 7: Hộp thoại Controls
- Mở rộng phần forest root domain trong cây giao diện, xem trong hình 8. Kích đúp vào nút "CN=Deleted Objects,DC=Domain,DC=local", ở đây DC=Domain,DC=local chính là tên riêng của forest root domain.
Hình 8: Mục Deleted Objects
Bất cứ đối tượng nào đã bị xóa cũng đều hiện hữu
trong mục Deleted Objects này. Trong hình 8, đối tượng User1 hiện hữu
vì nó đã bị xóa sau khi tính năng Active Directory Recycle Bin được
kích hoạt.
Xem các đối tượng đã xóa bằng Active Directory Module for Windows PowerShell
Để xem các đối tượng đã xóa bằng Active Directory Module for Windows PowerShell, bạn thực hiện theo các bước dưới đây:
- Đăng nhập vào một domain controller.
- Kích Start > All Programs > Administrative Tools > Active Directory Module for Windows PowerShell.
- Trong cửa sổ Active Directory Module for Windows PowerShell (xem trong hình 9), đánh vào lệnh sau:
Get-ADObject -ldapFilter:"(msDS-LastKnownRDN=*)" -IncludeDeletedObjects
- Nhấn Enter.
Hình 9: Xem các đối tượng đã xóa bằng cách sử dụng Active Directory Module for Windows PowerShell.
Như thể hiện trong hình 9, các đối tượng đã xóa được liệt kê theo danh sách
Khôi phục các đối tượng bị xóa
Bạn có thể khôi phục các đối tượng bị xóa bằng cách
sử dụng tiện ích ldp.exe hoặc sử dụng Active Directory Module for
Windows PowerShell.
Khôi phục đối tượng đã xóa bằng tiện ích ldp.exe
Để khôi phục các đối tượng đã xóa bằng tiện ích này. Bạn thực hiện theo các bước dưới đây:
- Sử dụng tiện ích ldp.exe để tìm đối tượng mà bạn muốn khôi phục. (xem hướng dẫn trong phần trước).
- Trong cây giao diện, kích phải vào đối tượng mà bạn muốn khôi phục. Chọn Modify từ menu xuất hiện.
- Trong hộp thoại Modify (xem trong hình 10), hãy đánh isDeleted vào trường Edit Entry Attribute.
- Trong phần Operation của hộp thoại, hãy chọn Delete.

Hình 10: Điều chỉnh thuộc tính isDeleted
- Kích nút Enter. Hộp thoại sẽ được refresh với nhiều chi tiết được hiển thị hơn (xem trong hình 11).
- Đánh distinguishedName trong trường Edit Entry Attribute.
- Trong trường Values, đánh vào tên riêng ban đầu của đối tượng Active Directory.
- Trong phần Operation, chọn Replace.
- Tích vào hộp kiểm Extended ở phía dưới bên trái của hộp thoại.
- Kích nút Enter, sau đó kích Run.
Hình 11: Điều chỉnh thuộc tính distinguishedName
Bạn đã điều chỉnh thành công thuộc tính để khôi phục
lại đối tượng bị xóa, các thông tin của đối tượng sẽ biến mất trong cây
giao diện (xem hình 12).
Hình 12: So sánh hình này với hình 8 để xem các thông tin đã được khôi phục
Khôi phục đối tượng đã xóa bằng Active Directory Module for Windows PowerShell
Để khôi phục bằng phương pháp này, bạn hãy thực hiện theo các bước sau:
- Sử dụng Active Directory Module for
Windows PowerShell để tìm thuộc tính Name cho đối tượng mà bạn muốn
khôi phục (xem hướng dẫn trong phần trước).
- Trong cửa sổ
Active Directory Module for Windows PowerShell (hình 13), đánh vào lệnh
dưới đây, thay thế User1 bằng thuộc tính cho thuộc tính Name mà bạn
muốn khôi phục:
Get-ADObject -Filter {displayName -eq "User1"} -IncludeDeletedObjects | Restore-ADObject
- Nhấn Enter.
Hình 13: Khôi phục đối tượng bị xóa bằng Active Directory Module for Windows PowerShell.
Active Directory Module for Windows PowerShell sẽ
không báo cáo về sự thành công của quá trình khôi phục, tuy nhiên bạn
có thể tìm đối tượng trong thư mục để thẩm định cho sự thành công đó.
Kết luận
Với tính năng Active Directory Recycle Bin mới, bạn có thể “undo”
những đối tượng bị xóa do vô tình một cách nhanh chóng và dễ dàng. Và
có thể kết luận nó sẽ là một tính năng vô giá đối với hầu hết các tổ
chức của Windows Server 2008 R2.
|
đăng 11:18 02-08-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Michael Miller
Bạn đã bao
giờ nghĩ đến chuyện nâng cấp các máy tính Windows XP hoặc Vista lên
Windows 7 hay chưa? Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn 7
lý do chính mà bạn nên nâng cấp lên hệ điều hành mới này.
Windows Vista đã cho thấy nó không phải là phiên bản
hệ điều hành Windows thành công của Microsoft. Chính vậy Microsoft đã
bắt tay vào triển khai và phát triển Windows 7 và phát hành cuối cùng
đang được dự kiến phát hành vào cuối năm nay.
Tuy nhiên bạn đã biết được những điểm khác nhau nào
giữa hệ điều hành Windows 7 sắp được phát hành với Windows Vista và
Windows XP? Quan trọng hơn nữa, liệu Windows 7 có tốt hơn để đáng nâng
cấp. Dưới đây là 7 lý do giúp bạn đưa ra quyết định nâng cấp từ các hệ
điều hành Windows XP hoặc Windows Vista lên Windows 7.
Lý do 1: Windows 7 tương thích hoàn toàn với Windows Vista nhưng chạy nhanh hơn
Windows 7 có thể được coi là một phiên bản nâng cấp
cho Windows Vista. Điều này hoàn toàn chính xác vì Windows 7 có đôi
chút giống như một gói dịch vụ cho Windows Vista.
Tuy nhiên Windows 7 có một số cải thiện đáng kể hơn
kẻ tiền nhiệm của nó. Chẳng hạn như trong khi Windows Vista gặp rất
nhiều sự phàn nàn về việc không tương thích với phần mềm lẫn phần cứng
cũ thì điều này đã được khắc phục trong Windows 7.
Do cơ sở mã giữa hai hệ điều hành này về cơ bản là
giống nhau nên nếu bạn có một hệ thống đã làm việc tốt với Windows
Vista thì mọi thứ cũng sẽ được giữ nguyên như vậy khi bạn sử dụng
Windows 7. Điều này chắc chắn sẽ làm hài lòng những người đang sử dụng
hệ điều hành Vista.
Tuy nhiên Windows 7 không chỉ có khả năng tương
thích mọi thứ trên Vista mà nó còn có khả năng tương thích cả với các
phần mềm và phần cứng trong thời đại XP. Về vấn đề này Microsoft đã có
nhiều kinh nghiệm trong việc bổ sung thêm các chương trình hay thiết bị
vào danh sách tương thích và điều đó làm cho Windows 7 trở thành một hệ
điều hành có khả năng tương thích mạnh hơn. Tất cả các thiết bị ở dạng
"unknown devices" khi nâng cấp từ XP lên Vista sẽ được nhận dạng đúng
trong Windows 7.
Thậm chí tốt hơn thế, Windows 7 còn load và chạy
nhanh hơn một cách đáng kể so với Vista. Đây chính là hiệu quả của việc
nâng cấp bổ sung; Microsoft có những điều chỉnh tốt hơn trong hệ điều
hành mới này. Trong khi Vista làm cho các máy tính cũ hoạt động ì ạch
và chậm chạp thì Windows 7 sẽ cho bạn thấy việc cài đặt, load diễn ra
nhanh hơn, cảm nhận sống động theo hoạt động hàng ngày.
Tóm lại, Windows 7 là những gì đã được cải thiện và
sửa đổi từ Windows Vista. Chính vì vậy nếu bạn đang đợi để nâng cấp từ
XP lên Vista, hãy nâng cấp trực tiếp lên Windows 7 là cách làm đúng đắn
nhất.
Lý do 2: Windows XP Mode
Lại nói về khả năng tương thích, Windows 7 có một
tính năng khá độc đáo đó là Windows XP Mode, đây là tính năng hứa hẹn
khả năng tương thích hoàn toàn với bất cứ chương trình nào trong thời
đại Windows XP. Về cơ bản XP Mode là một môi trường PC ảo chạy một copy
có bản quyền của Windows XP (SP3).
Nếu có một chương trình làm việc trong XP nhưng
không chạy được trong môi trường Vista, thì chương trình này vẫn làm
việc tốt trong chế độ XP Mode ảo của Windows 7. Bạn hầu như sẽ không
nhận ra sự khác biệt khi chạy trong chế độ này vì các chương trình chạy
trong chế độ ảo vẫn cho bạn cảm nhận giống như những ứng dụng Windows 7
thông thường.
Mặc dù vậy có một vấn đề các bạn cần lưu ý là tính
năng Windows XP Mode không có trong hệ điều hành Windows 7 tối giản
(bản core). Nó được cung cấp dưới tư cách một download miễn phí cho
người dùng đang sở hữu các phiên bản Windows 7 Professional, Enterprise
và Ultimate. Do vậy nếu việc tương thích hoàn toàn với các ứng dụng
Windows XP là cần thiết đối với bạn, hãy chọn một trong các phiên bản
trên để đạt được điều đó.
Lý do 3: Windows 7 Taskbar
Đây cũng là một điều mới khá thú vị trong Windows 7.
Windows 7 với thanh tác vụ (Taskbar) mới, Taskbar này có giao diện và
làm việc khác rất nhiều so với Taskbar mà bạn đã từng sử dụng trước đó.
Trong các phiên bản Windows trước đây, Taskbar tồn
tại để “lưu giữ” các ứng dụng hoặc tài liệu mà bạn hiện đang mở. Ví dụ
như khi bạn mở một worksheet trong Excel, một nút cho worksheet sẽ xuất
hiện trên Taskbar. Khi mở nhiều cửa sổ, bạn có thể chuyển đổi giữa các
cửa sổ bằng việc kích nút cửa sổ trên Taskbar. Khi một tài liệu hoặc
một ứng dụng nào đó được đóng lại, nút Taskbar của nó cũng sẽ biến mất.
Trong Windows 7, Taskbar vẫn giữ không gian cho
những tài liệu và ứng dụng được mở, tuy nhiên nó còn cung cấp như một
"dock" cho các chương trình ưa thích của bạn. Có thể nhận định đây là
một kiểu kết hợp của Taskbar trong các phiên bản trước và thanh công cụ
khởi chạy nhanh Quick Launch (thành phần có trong Windows XP nhưng bị
bỏ qua trong Windows Vista). Hay nói một cách khác, Taskbar mới trong
Windows 7 hiển thị các biểu tượng hoặc các nút cho cả các chương trình
đã đóng hay hiện còn đang mở - và nhiều instance của các ứng dụng đang
chạy.
Mỗi một nút trên Taskbar đều có các chức năng bổ
sung. Chẳng hạn như khi bạn kích vào nút Taskbar cho một ứng dụng đang
chạy, bạn sẽ thấy thumbnail của tài liệu mở hay nhiều thumbnail nếu có
nhiều tài liệu mở. Kích phải vào một nút Taskbar cho tài liệu đang mở
hay đã đóng; bạn sẽ thấy một Jump List, về bản chất đó là một menu các
tài liệu gần đây và chức năng chương trình bổ sung.
Lý do 4: Các tính năng Aero mới
Giao diện Aero là một điểm mới xuất hiện trong
Windows Vista, tuy nhiên Windows 7 còn bổ sung thêm nhiều điểm mới hơn
trong tính năng Aero này. Phải kể đến trong đó là một số tính năng quản
lý các cửa sổ khá thuận tiện và đẹp mắt mà bạn có thể sử dụng với
chuột, bàn phím hoặc bằng các ngón tay (nếu sở hữu một máy tính có màn
hình cảm biến).
Cho ví dụ, tính năng Aero Peek mới tỏ ra rất hữu
dụng khi bạn làm việc với nhiều cửa sổ. Chẳng hạn như muốn xem những gì
trên desktop nằm sau các cửa sổ này, khi đó bạn chỉ cần di chuyển chuột
vào nút Aero Peek ở bên phải Taskbar, các cửa sổ sẽ được thu lại và
desktop hiện ra trước mặt bạn. Aero Peek cũng được kích hoạt khi bạn di
chuyển chuột qua một Taskbar thumbnail; lúc này cửa sổ cho thumbnail đó
sẽ được hiển thị còn tất cả các cửa sổ khác sẽ được làm trong suốt.
Một tính năng mới nữa đó là Aero Snap, đây là cách
để bạn có thể cực đại hóa hay đặt các cửa sổ về phía cạnh desktop một
cách nhanh chóng. Khi thực hiện hành động kéo một cửa sổ lên đỉnh của
màn hình, cửa sổ này sẽ được cực đại hóa toàn bộ màn hình. Thậm chí khi
kéo một cửa sổ về phía trái và một cửa sổ khác về bên phải của màn
hình, bạn sẽ có một thiết lập “side-by-side” khá thú vị. Aero Snap cũng
có thể được kích hoạt bằng các phím tắt và tỏ ra rất hoàn hảo trong
việc sử dụng trên các màn hình cảm biến.
Ngoài ra Aero Shake cho phép bạn khép tất cả các cửa
sổ đang mở và chỉ giữ lại một trong số đó bằng chuột hoặc ngón tay để
“lắc” cửa sổ hiện hành. Cửa sổ mà bạn “lắc” sẽ được mở cho tới trong
khi các cửa sổ khác sẽ được khép lại.
Lý do 5: User Account Control dễ chịu hơn
Một trong những thứ mà người dùng Windows Vista phàn
nàn nhiều nhất đó chính là User Account Control. UAC được tạo ra với
những dự định tốt, mục đích là để giảm sự tiêm nhiễm virus và sự xâm
nhập của spyware, tuy nhiên nó lại gây khó chịu cho người dùng do hỏi
quá nhiều về các hành động thông thường.
Microsoft đã lắng nghe các phàn nàn đến từ phía
người dùng và có những thay đổi đáng kể trong UAC của Windows 7. Lúc
này, bạn khó có thể biết hệ điều hành mới này vẫn có tính năng UAC đó.
Các hộp thoại đòi hỏi xác thực chỉ xuất hiện khi bạn cài đặt một phần
cứng hoặc phần mềm mới trên hệ điều hành của mình. Một số người cho
rằng điều này có thể làm cho Windows 7 kém an toàn hơn Vista tuy nhiên
thực tế không phải vậy vì cách thức này mang đến nhiều tiện lợi hơn,
giảm những nhắc nhở khó chịu đối với những công việc thông thường.
Lý do 6: Sử dụng các ứng dụng không phải của Microsoft
Microsoft vẫn bị cho là không công bằng trong việc
tích hợp tất cả các ứng dụng khác của mình vào hệ điều hành Windows và
gọi chúng như một phần của hệ điều hành.
Tuy nhiên trong phiên bản mới này, họ đã quyết định
không đưa một số trong các ứng dụng đó vào Windows 7. Vẫn có thể sử
dụng các ứng dụng như Mail, Photo Gallery, Movie Maker nhưng bạn phải
tự download chúng (những ứng dụng này vẫn được cung cấp miễn phí) như
một phần trong những gì Microsoft gọi là Windows Live Essentials. Chúng
sẽ không được cài đặt như một phần có sẵn của Windows, điều đó giúp
giải phóng được một phần không gian đĩa cứng của bạn và ngoài ra bạn có
được lựa chọn của mình trong việc sử dụng hay không bao giờ sử dụng
hoặc chọn một ứng dụng khác tốt hơn.
Bên cạnh đó Microsoft cũng tạo điều kiện dễ dàng hơn
cho bạn trong việc chỉ định các ứng dụng cạnh tranh đối như các chương
trình mặc định của Windows. Ví dụ như trường hợp không muốn sử dụng
trình duyệt Internet Explorer, bạn có thể cấu hình Windows 7 để sử dụng
Google Chrome hay Mozilla Firefox là trình duyệt mặc định của mình.
Có một nút Default Programs trên Start menu cho phép
bạn cấu hình tất cả các ứng dụng mặc định trên hệ thống của mình. Tuy
nhiên không bị khóa chặt bởi các ứng dụng của Windows mà bạn có thể
thiết lập những ứng dụng không phải của Microsoft mà mình ưa thích như
những ứng dụng mặc định của hệ thống.
Lý do 7: Các ứng dụng được tân trang lại
Microsoft còn cung cấp một số nâng cấp đáng kể đối
với một số ứng dụng nhỏ. Cho ví dụ trong đó như Windows Calculator.
Trước đây Calculator chỉ cung cấp những chức năng như một chiếc máy
tính đơn giản, tuy nhiên giờ đây nó như một máy tính kỹ thuật cao và có
thể thực hiện các tác vụ quan trọng.
Windows Paint cũng được nâng cấp trong Windows 7
(với giao diện Ribbon mới), WordPad cũng có một Ribbon mới còn Windows
Media Player có một cửa sổ chế độ Now Playing tối giản. Phải sử dụng
hết các tính năng trong các ứng dụng này khi đó bạn mới thưởng thức
được hết những cái mới của chúng.
Thêm vào đó Microsoft cũng đã bỏ Sidebar cố định có
trong Vista mà thay vào đó cho phép bạn đặt các Gadget trực tiếp vào
desktop của mình. Điều chỉnh này đã giải phóng được không gian trên màn
hình desktop của bạn và cung cấp cho bạn nhiều lựa chọn thiết thực khác.
Văn Linh (Theo Informit)
|
đăng 11:12 02-08-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Mitch Tulloch
Trong phần 4 của loạt bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách sử dụng MAP 4.0 trong triển khai Windows 7.
Lưu ý: Bài viết này được dựa trên các phiên bản tiền
phát hành của MAP 4.0, chính vì vậy sẽ có những nâng cấp mới và một vài
sự thay đổi trong phát hành RTM.
Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã giới
thiệu cho các bạn về MAP 4.0 có thể được sử dụng để làm gì, cách sử
dụng nó như thế nào và giao diện người dùng của công cụ ra sao. Một
trong những trường hợp sử dụng công cụ này là đánh giá sự sẵn sàng của
các máy tính trong việc di trú sang phiên bản Windows 7 Enterprise.
Chuẩn bị cho việc đánh giá
Trước khi sử dụng MAP để đánh giá sự sẵn sàng cho
các máy tính desktop trong việc di trú sang Windows 7, bạn cần bảo đảm
những điều kiện đánh giá. Thứ thú vị nhất về MAP là bạn không cần triển
khai agent phần mềm cho mỗi một máy trạm muốn đánh giá. Thay vì việc sử
dụng các agent, MAP sử dụng Windows Management Instrumentation (WMI) để
thu thập các thông tin về phần cứng và phần mềm từ các máy tính trên
mạng của bạn. Để WMI có thể thực hiện điều đó, các máy trạm của bạn
phải được cấu hình cho phép các truy vấn WMI từ xa. Điều đó có nghĩa
rằng bạn phải cho phép những ngoại lệ Remote Administration và File
& Printer Sharing hoạt động trong tường lửa Windows Firewall trên
các máy trạm. Có thể sử dụng Group Policy để kích hoạt những ngoại lệ
này của tường lửa trong mạng Active Directory (trong một workgroup, bạn
phải tự thực hiện trên mỗi máy tính). Cũng vậy, trong môi trường
domain, bạn cần phải chạy MAP trên máy tính đã đăng nhập với tư cách là
thành viên của nhóm bảo mật Domain Admins (trong môi trường workgroup
bạn cần cung cấp MAP với các chứng chỉ quản trị viên nội bộ trên mỗi
máy tính). Ngoài ra cũng cần đến bước cấu hình bổ sung để chuẩn bị đánh
giá các máy tính của bạn bằng MAP. Để có thêm thông tin chi tiết, bạn
có thể xem thêm các hướng dẫn về MAP cho người mới sử dụng bằng cách
vào Start | All Programs | Microsoft Assessment and Planning Toolkit.
Thực hiện đánh giá
Để thực hiện một hành động đánh giá sự sẵn sàng cho Windows 7, bạn hãy mở giao diện MAP, chọn nút Inventory and Assessment ở phía dưới panel điều hướng, mở Discover and Readiness ở phần trên của panel điều hướng sau đó chọn Windows 7 Readiness (xem trong hình 1):
Hình 1: Thực hiện đánh giá sự sẵn sàng của Windows 7 bằng MAP 4.0
Kích vào liên kết Inventory and Assessment Wizard trong phần panel bên phải để khởi chạy Inventory and Assessment Wizard.
Trong trang đầu tiên của wizard, bạn có thể chỉ định phương pháp muốn
sử dụng để định vị các máy tính trên mạng của mình (xem trong hình 2).
Phương pháp được hỗ trợ trong MAP 4.0 gồm có:
- Truy vấn Active Directory cho các tài khoản máy tính trong các miền hoặc OU mà bạn chỉ định.
- Sử dụng Win32 LAN Manager API để truy vấn dịch vụ Computer Browser nhằm tìm các máy tính thuộc về workgroup.
- Import danh sách tên các máy tính (NetBIOS hoặc FQDNs) từ một file văn bản.
- Quét một dải địa chỉ IP chỉ định cho các máy tính
- Chỉ định tên máy tính (NetBIOS hoặc FQDNs) nếu bạn chỉ có một vài máy để đánh giá.
- Phát hiện các máy ảo Windows đang chạy trên các máy chủ VMware
Mặc định, Active Directory và các giao thức mạng của
Windows sẽ được sử dụng, tuy nhiên để đơn giản trong ví dụ này, chúng
tôi sẽ tách phần thứ hai và chỉ truy vấn Active Directory.
Lưu ý: Việc chọn các tùy chọn khác nhau trên trang này có thể dẫn đến hiển thị một số trang wizard sau đó.
Hình 2: Chọn phương pháp để phát hiện các máy tính trên mạng
Trong trang tiếp theo của wizard, chúng ta chỉ định
các tiêu chuẩn Domain Admin mà MAP có thể sử dụng để truy vấn Active
Directory (xem trong hình 3):
Hình 3: Chỉ định các tiêu chuẩn của quản trị miền cho MAP để truy vấn Active Directory
Trong trang wizard kế tiếp, chúng ta sẽ chỉ định để
cho MAP chỉ truy vấn các tài khoản máy tính trong Seattle Computers OU
(xem trong hình 4):
Hình 4: Chỉ định các đơn vị miền và tổ chức nơi các máy tính cư trú
Trang wizard tiếp theo sẽ hỏi chúng ta các chứng chỉ mà MAP sử dụng để kết nối từ xa vào mỗi máy tính bằng WMI (hình 5):
Hình 5: MAP cần các tiêu chuẩn để kết nối từ xa đến các máy tính bằng WMI
Khi kích New Account bạn sẽ thấy hộp thoại Inventory Account được mở (xem trong hình 6). Chỉ định tài khoản Domain Admin cho tài khoản kiểm kê:
Hình 6: Chỉ định tài khoản quản trị miền cho các kết nối WMI đến các máy tính từ xa
Kích nút Save sẽ bổ sung tài khoản cụ thể vào trang WMI Credentials của wizard (hình 7):
Hình 7: Các tiêu chuẩn cho các kết nối WMI từ xa đã được chỉ định
Trang cuối cùng của wizard sẽ tóm tắt các lựa chọn mà bạn đã thực hiện (hình 8):
Hình 8: Trang tóm tắt của wizard
Kích Finish sẽ bắt đầu quá trình kiểm kê và hiển thị hộp thoại Status (hình 9):
Hình 9: Trạng thái của quá trình kiểm kê được hiển thị
Khi quá trình đánh giá kết thúc, kích Close.
Sau đó MAP sẽ hiển thị các kết quả đánh giá. Hình 10 hiển thị hai máy
khách được phát hiện trong OU chỉ định và cả hai máy này đều đủ tiêu
chuẩn để di trú sang Windows 7:
Hình 10: Kết quả đánh giá sự sẵn sàng cho Windows 7
Phần giữa của panel MAP sẽ hiển thị các chi tiết
đánh giá. Cho ví dụ, chúng ta có thể thấy trong hình 11 có một số vấn
đề không tương thích về thiết bị cần phải giải quyết với nhà sản xuất
trước khi di trú các máy tính đó sang Windows 7.
Hình 11: Lưu ý, 6% các thiết bị trên các máy tính đã được đánh giá có thể không tương thích với Windows 7
Thay đổi các yêu cầu phần cứng
Chúng ta hãy khảo sát những yêu cầu về phần cứng nào
được sử dụng trong suốt quá trình đánh giá để làm cơ sở xác định xem
các máy tính của chúng ta đã sẵn sàng cho việc di trú hay chưa. Trong
panel Actions ở phía bên trái hình trên, kích Set Assessment Properties để mở hộp thoại Assessment Properties (hình 12):
Hình 12: Các giá trị phần cứng mặc định của MAP cho việc đánh giá sự sẵn sàng
Mặc định, MAP sử dụng các yêu cầu phần cứng tối
thiểu dưới đây cho Windows 7 (các giá trị này mang tính sơ bộ và có thể
thay đổi trong phát hành RTM):
- Tốc độ CPU tối thiểu là 1.0GHz
- 20GB không gian đĩa trống tối thiểu cho các hệ thống x64 và 16GB cho các hệ thống x86
- 2GB RAM tối thiểu cho các hệ thống x64 và 1GB cho các hệ thống x86
Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu các yêu cầu về phần cứng
này không đủ cho nhu cầu của doanh nghiệp? Cho ví dụ, nếu chúng ta lên
kế hoạch sử dụng hai máy tính cho một số công việc chuyên môn đòi hỏi
có cấu hình cao, chẳng hạn như xử lý video, khi đó bạn phải tăng các
yêu cầu tối thiểu này và xem các máy tính của mình vẫn sẵn sàng cho
Windows 7 hay không. Để thực hiện điều đó, hãy chọn Use Custom Settings
và chỉ định các yêu cầu mới như thể hiện trong hình 13:
Hình 13: Chỉ định các yêu cầu phần cứng nghiêm ngặt hơn cho Windows 7
Lúc này, hãy kích Run Assessment để đánh giá lại với các yêu cầu phần cứng nghiêm ngặt hơn (xem hình 14):
Hình 14: Thực hiện đánh giá lại
Tạo các báo cáo và dự kiến
Lúc này chúng ta đã chạy hai đánh giá và trả lời được hai câu hỏi dưới đây:
- Số lượng máy tính sẵn sàng cho Windows 7 là bao nhiêu?
- Các máy tính này liệu có sẵn sàng cho Windows 7 với các yêu cầu về phần cứng nghiêm khắc hơn hay không?
Chúng ta hãy tạo các báo cáo để có thể chia sẻ và
xem lại trong nhóm, sau đó có thể sử dụng vào việc quản lý. Để tạo ra
các báo cáo, hãy kích Generate Report/Proposal trong panel Action ở
bên phải hình 11. Khi bạn thực hiện, MAP sẽ tạo một dự kíên (Word doc)
và một workbook Excel chứa các báo cáo khác nhau (Hình 15):
Hình 15: Báo cáo và dự kiến đang được tạo
Hãy quan sát workbook Excel trước vì nó có chứa các
thông tin chi tiết cần xem lại. Để tìm ra các dự kiến và các báo cáo
của chúng ta, bạn hãy chọn View | Saved Reports and Proposals để mở thư mục có chứa các báo cáo (hình 16):
Hình 16: Báo cáo và dự kiến đã được tạo bởi MAP
Chúng tôi sẽ mở workbook và quan sát mỗi một
worksheet. Worksheet đầu tiên cung cấp một bảng tóm tắt các thông tin
sẵn sàng cho các máy tính đang sử dụng hệ điều hành Windows máy khách
(hình 17):
Hình 17: Tóm tắt quá trình đánh giá các máy khách
Worksheet tiếp theo hiển thị các yêu cầu về hệ thống
được cung cấp bởi Microsoft cộng với bất cứ thiết lập được tiến cử nào
đã được sử dụng trong quá trình đánh giá (xem trong hình 18):
Hình 18: Các yêu cầu hệ thống được sử dụng trong đánh giá
Worksheet tiếp theo cung cấp các thông tin tóm tắt
về sự sẵn sàng cho các máy tính đang sử dụng hệ điều hành khách của
Windows (hình 19):
Hình 19: Các kết quả đánh giá cho máy khách
Worksheet tiếp theo là bảng tóm tắt các thiết bị
phần cứng được tìm thấy trên các máy tính. Nó sẽ xác định xem driver có
sẵn trên DVD Windows 7 hay không, từ Windows Update, hay liệu bạn có
cần liên hệ với nhà sản xuất phần cứng để tìm ra driver cho Windows 7
hay không. Worksheet này có một hàng dành cho thiết bị được phát hiện
và cung cấp số máy tính ở nơi thiết bị được tìm thấy. Để xác định các
thiết bị cụ thể trên mỗi máy tính, bạn hãy xem phần Device Inventory
Details Worksheet (hình 20):
Hình 20: Tóm tắt đánh giá thiết bị
Worksheet tiếp theo mô tả các thiết bị phần cứng
được phát hiện trên mỗi máy tính cụ thể. Nó sẽ chỉ ra liệu driver của
thiết bị hiện có trong Windows 7 DVD, từ Windows Update, hay bạn cần
phải liên hệ với nhà sản xuất để có được driver cho Windows 7 hay không
(hình 21):
Hình 21: Chi tiết đánh giá thiết bị
Worksheet tiếp theo mô tả các máy tính hiện không
thể chạy Windows 7 và các nâng cấp phần cứng cần thiết để chúng đạt
được yêu cầu hệ thống mức tối thiểu cho Windows 7 (hình 22):
Hình 22: Các máy tính đủ mức tối thiểu sau khi nâng cấp phần cứng
Worksheet tiếp theo mô tả các máy tính không thể
chạy Windows 7 hoặc có đủ các yêu cầu hệ thống tối thiểu. Nó cung cấp
các nâng cấp về phần cứng cần thiết để các máy tính này sẵn sàng di
trú sang Windows 7 bằng cách sử dụng các yêu cầu về phần cứng tiến cử
đã được chọn cho đánh giá này (hình 23):
Hình 23: Các máy tính thỏa mãn điều kiện sau khi nâng cấp phần ứng
Worksheet thứ 8 và cũng là worksheet cuối cùng mô tả
60.000 ứng dụng đã được phát hiện thông qua quá trình kiểm kê trên các
máy tính khách và cung cấp số phiên bản phần mềm nào đó được tìm thấy.
Dữ liệu trong sheet này dựa chủ yếu vào các máy tính đã được thực hiện
kiểm kê thành công (hình 24):
Hình 24: Các ứng dụng được phát hiện
Cuối cùng, chúng ta hãy khảo sát file Word doc được
tạo bởi MAP, file này sẽ tóm tắt các kết quả về việc đánh giá sự sẵn
sàng cho Windows 7 của chúng ta (hình 25):
Hình 25: MAP tạo một dự kiến để phục vụ việc quản lý
Như những gì các bạn thấy trong phần phác thảo bên
trái, tài liệu này chứa cả các kết quả của quá trình đánh giá và cả các
thông tin có liên quan đến ưu điểm của việc triển khai phiên bản
Windows 7 Enterprise trong tổ chức. Bạn có thể sử dụng tài liệu này như
một dự kiến cơ bản để trình bày. Bên cạnh đó MAP 4.0 cũng cho bạn khả
năng chèn vào logo và phần văn bản trong Word template, cho phép người
dùng chẳng hạn như các cố vấn có thể tùy chỉnh hiển thị đầu ra.
Kết luận
MAP 4.0 là một công cụ mạnh cho việc đánh giá xem cơ
sở hạ tầng máy trạm của bạn đã sẵn sàng cho việc di trú sang Windows 7
hay chưa. Bên cạnh đó MAP 4.0 còn có khả năng giúp bạn lên kế hoạch di
trú một máy chủ và hợp nhất. Những phần đó sẽ được chúng tôi giới thiệu
trong các phần sau của loạt bài này.
Văn Linh (Theo WindowsNetworking)
|
đăng 11:11 02-08-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
David Davis
Trong bài này chúng
tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách sử dụng Windows Remote Desktop
(mstsc.exe) từ dòng lệnh để kết nối tới các máy chủ từ xa từ các
shortcut đã lưu hoặc các tùy chọn khác.
Giới thiệu
Windows Remote Desktop cho phép bạn kiểm soát từ xa
hầu như tất cả các máy tính Windows hoặc các máy chủ Server. Bạn có thể
thực hiện kiểm soát từ xa từ PC đến PC, máy chủ đến máy chủ, PC đến máy
chủ, hoặc máy chủ đến PC. Thành phần máy chủ của RDP được xây dựng bên
trong các hệ điều hành Windows XP, Vista hoặc Windows 7 (tuy nhiên bạn
phải ủy quyền máy trạm từ xa cho máy tính đó). Trên phía desktop kết
nối đến PC sẽ bị hạn chế, tuy nhiên bên phía server (chẳng hạn như
Windows 2003 hoặc 2008) bạn lại có thể cho phép nhiều người dùng cùng
kết nối với máy chủ bằng Terminal Services.
Mặc dù vậy, dù bạn đang sử dụng hệ điều hành máy trạm hay máy chủ đi nữa thì phần mềm máy khách cũng hoàn toàn giống nhau - Remote Desktop Connection hoặc Remote Desktop Client. File thực thi cho phần mềm có tên gọi mstsc.exe và có đường dẫn %systemroot%/system32/mstsc.exe.
Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu về những gì bạn có thể thực hiện với mstsc.exe…
Chạy Windows remote Desktop Connection từ CLI
Trong sử dụng Remote Desktop Client từ nhắc lệnh, bạn có thể sử dụng cú pháp lệnh cơ bản cho mstsc.exe như sau:
mstsc.exe {ConnectionFile | /v:ServerName[:Port]} [/console] [/f] [/w:Width/h:Height]
Tuy nhiên, trong Vista, bạn hãy chạy mstsc /?, để có thêm một số tùy chọn khác:
Hình 1: Màn hình trợ giúp cho việc kết nối desktop từ xa
Trên hầu hết các máy tính mà chúng ta sử dụng, việc
sử dụng kết nối desktop từ xa không dễ xác định trong Start Menu. Chính
vì vậy để đơn giản bạn nên sử dụng Start -> Run, sau đó đánh mstsc và nhấn Enter.
Một số lý do nên chạy mstsc từ CLI
Chắc chắn bạn sẽ thích Remote Desktop vì từ hệ thống
laptop hoặc desktop, bạn có thể kết nối đến bất cứ PC hoặc máy chủ nào
của mình trong cơ sở hạ tầng. Cách thức này quả thực tạo rất nhiều sự
tiện lợi.
Nếu thường xuyên sử dụng các tùy chọn dòng lệnh. Có một thứ mà bạn sẽ thường phải thực hiện đó là lưu một RDP File,
đây là một file cấu hình đã được lưu cho một kết nối RDP – hoặc máy
chủ, PC mà bạn thường kết nối đến. Rõ ràng, có thể có nhiều file RDP
cho cùng một máy chủ hoặc PC nếu bạn muốn có nhiều file cấu hình đã lưu.
Các file “.rdp” đơn giản là các file văn bản mà bạn
có thể tạo hoặc chỉnh sửa bằng notepad. Đây là một ví dụ về nội dung
của file “.rdp”:
Hình 2: File RDP được mở trong notepad
Bạn có thể làm việc bên trong notepad, tuy nhiên
cách thường được sử dụng nhất trong việc chỉnh sửa một file .RDP là sử
dụng GUI Remote Desktop client vì nó cung cấp các tùy chọn Open, Save, and Save as thuận tiện hơn nhiều cho các file kết nối:
Hình 3: Mở và lưu các thiết lập kết nối RDP
Bạn cũng có thể chỉnh sửa một file nào đó bằng GUI nhưng khởi chạy nó từ dòng lệnh bằng tùy chọn /edit cho mstsc như sau:
mstsc /edit test.rdp
Một số lý cho cho việc lưu các file RDP để sử dụng về sau:
- Bạn có thể lưu các kết nối đến nhiều máy chủ
và sử dụng các thiết lập đã lưu trên desktop của mình hoặc trong một
thư mục nào đó trong Start menu, xem minh họa bên dưới:

Hình 4: Tạo nhiều kết nối máy chủ RDP trong Start Manu
- Trong trường hợp có nhiều phiên bản của cùng
một kết nối – bạn có thể kết nối đến một desktop ảo bằng VDI, có thể sử
dụng một biểu tượng để tạo một kết nối RDP toàn màn hình hay với độ
phân giải 800x600.
- Có thể cần đến một file RDP để kết nối
đến máy chủ, một file RDP khác để kết nối đến máy chủ và chạy một ứng
dụng (tất cả đều có thể được chỉ định trong file .rdp)
Tạo Desktop Shortcut để chạy Remote Desktop
Nếu muốn tạo một desktop shortcut để kết nối đến một
máy chủ nào đó. Bạn có thể sử dụng tập lệnh cơ bản của các tùy chọn
dòng lệnh hay có thể sử dụng các tùy chọn đó và file kết nối .rdp.
Tuy nhiên dù sử dụng cách nào đi chăng nữa thì bạn cũng cần phải nhập vào dòng lệnh đầy đủ trong wizard tạo desktop shortcut.
Chúng ta hãy đi tạo một desktop shortcut:
- Kết nối đến máy chủ “exchange”
- Kết nối đến giao diện điều khiển của máy chủ đó
- Tạo một cửa sổ 800x600
Để thực hiện điều đó, bạn cần phải chạy lệnh:
mstsc.exe /v:exchange /admin /w:800 /h:600
Và để tạo một desktop shortcut, bạn cần nhập đoạn lệnh trên vào create shortcut location, như minh họa bên dưới:
Hình 5: Việc tạo một desktop shortcut với RDP
Nếu các tùy chọn cơ bản này không đủ, bạn có thể sử dụng thêm file .rdp.
Để thực hiện điều này, bạn cần chạy mstsc.exe,
sau đó tùy chỉnh kết nối của bạn theo ý muốn. Chẳng hạn như việc thêm
âm thanh, điều chỉnh băng thông, thiết lập ứng dụng được chạy, điều
chỉnh hiệu suất, kết nối các thiết bị nội bộ và tài nguyên như máy in.
Khi thực hiện xong tất cả các công việc đó, bạn chỉ cần kích nút Save as trên tab General. Sau khi đã lưu xong, hãy đặt tên cho file là fileserver.
Bảo đảm rằng bạn biết rõ thư mục có lưu file RDP này. Bạn cũng nên kiểm
tra kết nối của mình ở đây để bảo đảm rằng nó làm việc như mong đợi.
Sau khi đã lưu, bạn có thể đóng cửa sổ Remote
Desktop Connection, tạo một desktop shortcut của mình. Khi nhập vào vị
trí của desktop shortcut, bạn cần nhập vào file kết nối sau msctsc.exe.
Bảo đảm phải nhập vào dường dẫn đầy đủ cho file .rdp. File .rdp cần
phải chỉ định đường dẫn hoặc desktop shortcut và file .rdp cần phải nằm
trong cùng một thư mục. Vì vậy nó cú pháp của câu lệnh sẽ như sau:
Mstsc.exe c:\users\david\documents\exchange.rdp
Nếu chạy mstsc với một file kết nối, khi đó bạn
không cần phải tạo một desktop shortcut. Tất cả những gì bạn phải thực
hiện lúc này là lưu file các thiết lập kết nối RDP và sau đó chạy file
này. Bản thân file này khi được chạy sẽ kết nối với mstsc.exe vì vậy nó
sẽ tự động khởi tạo kết nối đến máy chủ được chỉ định bên trong file
kết nối.
Một mẹo cuối cùng – nếu bạn muốn thay đổi các thiết
lập mặc định mà mstsc sử dụng để kết nối khi muốn chạy file mà không
cần bất cứ một sự điều chỉnh nào, hãy chỉnh sửa file Default.rdp trong thư mục chủ.
Kết luận
Windows Remote Desktop là một công cụ phân tích rất
mạnh và thật khó có thể hình dung điều gì sẽ xảy ra nếu không có công
cụ này. Ngoài việc tạo sự kết nối dễ dàng đến máy chủ bằng RDP GUI, một
quả quyết rằng khi đã sử dụng RDP một vài lần, bạn sẽ muốn sử dụng nó
nhiều hơn nữa. Sử dụng các tùy chọn dòng lệnh với mstsc.exe và tạo các
desktop shortcut để kết nối đến các máy chủ nào đó là bước tiếp theo
bạn cần phải thực hiện.
Văn Linh (Theo WindowsNetworking)
|
đăng 11:10 02-08-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Brien M. Posey
Tại sao tính năng
Windows XP Mode của Windows 7 có khả năng thay đổi cách Microsoft thiết
kế tất cả các hệ điều hành Windows trong tương lai.
Có lẽ rất nhiều người đã hiểu chưa đúng về chế độ
Windows XP của Windows 7, cho rằng đó chỉ là một cơ chế có khả năng
tương thích ngược. Tuy nhiên ngoài khả năng đó, tính năng này còn có
khả năng thay đổi cách Microsoft thiết kế tất cả các hệ điều hành
Windows trong tương lai.
Chế độ Windows XP Mode cho Windows 7 đã được giới
thiệu rất nhiều tuy nhiên ngoài việc cung cấp giải pháp tương thích
ngược thì nó còn có nhiều tính năng khác. Công nghệ này có liên quan
nhiều đến các thay đổi trong các phiên bản tương lai của Windows. Trong
bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn lý do của vấn đề đó.
Khi mới tuyên bố rằng Windows 7 sẽ có chế độ Windows
XP với mục đích tương thích ngược, đã có rất nhiều ý kiến bàn tán xung
quanh rằng Windows 7 sẽ đưa vào một copy có đăng ký hoàn chỉnh Windows
XP chạy bên trong một máy ảo.
Tuy nhiên sự thực không phải vậy. Người dùng có thể
sử dụng Virtual PC 2007 để chạy Windows XP bên trong một máy ảo với hệ
điều hành Vista. Dù Microsoft đã thêm vào một đăng ký của Windows XP
nhưng với hầu hết mọi người, phần nào tính năng này sẽ yêu cầu họ phải
có các đăng ký Windows XP. Chính vì vậy có người đã cho rằng tính năng
Windows XP Mode là một mánh lới quảng cáo trên thị trường được thiết kế
để thuyết phục công chúng rằng Windows 7 sẽ không phải đi vào vết xe đổ
trong các vấn đề tương thích như hệ điều hành Vista.
Câu chuyện mà chúng tôi muốn bắt đầu là tiến hành
bằng cách thiết lập một hồ sơ, sau đó sẽ giải thích tại sao tính năng
Windows XP Mode lại quan trọng đến vậy.
Có thể bạn đã được nghe hay được đọc ở đâu đó rằng
tính năng Windows XP Mode sẽ được dựa trên công nghệ Virtual PC. Thông
tin này thực sự đúng. Tuy nhiên, các phiên bản trước của Virtual PC
chậm và thiếu hiệu quả vì chúng đã pass tất cả những phát sinh từ phần
cứng của máy tính khách qua hệ thống hoạt động chủ. Tuy nhiên, Virtual
PC 2007 luôn có được sự hỗ trợ ảo hóa phần cứng, bạn có thể xem trong
hình A.
Hình A: Virtual PC 2007 hỗ trợ ảo hóa phần cứng
Sự ảo hóa phần cứng của Virtual PC 2007 không phải
là một chương trình điều khiển máy ảo (hypervisor) dựa trên Hyper-V,
tuy nhiên nó cho phép các máy khách hoạt động nhanh hơn rất nhiều. Cần
lưu ý rằng, Windows 7 sử dụng mã Virtual PC mới và mã mới này không dựa
trên Hyper-V.
Thứ tiếp theo mà chúng tôi muốn đề cập là Windows 7
sẽ cung cấp tính năng Windows XP mode ngay sau khi được cài đặt. Nếu
bạn muốn kích hoạt chế độ Windows XP, khi đó bạn sẽ phải download một
add-on. Add-on này sẽ được cung cấp cho bất cứ ai có phiên bản Windows
7 Professional, Enterprise hay Ultimate. Nếu bạn muốn thử tính năng
Windows XP Mode, hay download phiên bản beta hiện có tại đây.
Khi bạn cần chạy một ứng dụng trong chế độ Windows
XP, các ứng dụng này sẽ chạy trong một máy ảo, tuy nhiên bạn không cần
phải cấu hình GUI của máy ảo để chạy các ứng dụng của mình. Bạn có thể
cài đặt một ứng dụng trong môi trường Windows, nhưng lại chạy ứng dụng
đó thông qua giao diện Windows 7 bên cạnh các ứng dụng khác.
Rõ ràng sẽ rất thuận tiện nếu bạn có thể chạy các
ứng dụng trước đây bên cạnh các ứng dụng mới, nhưng tại sao chúng tôi
cho rằng chế độ Windows XP sẽ có liên quan đến những thay đổi trong
tương lai của toàn bộ hệ điều hành Windows.
Để hiểu lý do tại sao, bạn cần phải có một chút kiến
thức về các hệ điều hành của Windows. Windows 95 là phiên bản Windows
32-bit đáng kể đầu tiên của Microsoft (thực sự thì Windows cho các
workgroup 3.11 là đầu tiên, tuy nhiên đó chưa thực sự là một phát hành
lớn). Ở bất kỳ tốc độ nào, Windows 95 đã được thiết kế để có thể chạy
các ứng dụng 32-bit, nhưng thời gian đó, vẫn có nhiều người đang sử
dụng các ứng dụng 16-bit được thiết kế để chạy trên Windows 3.1. Để
thuận tiện trong việc sử dụng các ứng dụng kế thừa, Microsoft đã phát
triển một mutex 16-bit cho Windows 95. Đây là một
kiến trúc được thực thi độc lập các mã 16-bit và các mã 32-bit, bên
cạnh đó còn có cả một “multitask engine” riêng cho các ứng dụng 16-bit.
Đối với các ứng dụng “multitask”, tất cả các ứng dụng 16-bit đều được
với mức ưu tiên ngang bằng với ứng dụng đơn, 32-bit.
Ngày nay chung ta cũng có một mô hình tương tự như
vậy trong các phiên bản hiện đại của Windows. Các phiên bản 64-bit của
Windows XP và Vista có thể chạy một số kiểu mã 32-bit, tuy nhiên kiểu
mã này phải được giữ riêng biệt với kiểu mã 64-bit.
Vậy những gì diễn ra trong Windows XP Mode? Windows
XP Mode chính là một tính năng ở thế hệ đầu cho phép chúng ta có thể
chạy một máy ảo Windows XP. Tuy vậy nó cũng đơn giản hóa rất nhiều cho
hệ điều hành Windows.
Bằng cách thực thi Windows XP mode theo cách mà họ
có, Microsoft đã thiết kế Windows 7 mà không cần phải thiết kế trong
các cơ chế có khả năng tương thích ngược đặc biệt.
Windows 7 được xây dựng trên cơ sở của Vista kernel,
đây là một cải thiện mang tính đột phát về kiến trúc của Microsoft.
Chính vì vậy mà Windows 8 sẽ là một hệ điều hành hiệu quả và nhẹ hơn
nhiều và rất có thể Microsoft sẽ cung cấp sự ảo hóa dựa trên các
plug-in để cung cấp khả năng tương thích ngược.
Nói một cách khác, chúng ta mong muốn Windows 8 chỉ
chạy mã 64-bit và hoàn toàn không có sự hỗ trợ nguyên bản cho mã
32-bit. Những ai cần chạy mã 32-bit có thể download một plug-in cho
phép họ thực hiện điều đó. Cũng tương tự với khả năng tương thích của
hệ điều hành. Nếu ai đó cần chạy các ứng dụng đã được thiết kế cho
Windows XP, họ có thể download Windows XP plug-in.
Rõ ràng những nhận xét trên chỉ mang tính suy đoán,
tuy nhiên Microsoft đã phần nào cho thấy cơ sở của suy đoán trên. Họ đã
cung cấp sản phẩm Application Virtualization, sản phẩm trước đây được
biết đến với tên gọi SoftGrid. Đây là sản phẩm được thiết kế để cho
phép các ứng dụng không tương thích có khả năng chạy bên cạnh nhau. Mặc
dù Application Virtualization là một sản phẩm doanh nghiệp, nhưng không
gì có thể ngăn chặn Microsoft thực thi một tính năng như vậy ở mức hệ
điều hành. Thay cho việc sử dụng sự ảo hóa cho mỗi một ứng dụng riêng
lẻ, Microsoft có thể cung cấp các module ảo hóa để cho phép các ứng
dụng có thể chạy trong hệ điều hành.
Cho đến đây, các bạn chắc chắn đã hiểu được rằng
Windows XP Mode lại quan trọng đến vậy. Và thực sự còn rất nhiều thứ
chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn về nó. Chính vì vậy chúng tôi sẽ
dành phần hai cho các bạn về một số tính năng mới, thú vị mà Windows XP
Mode sẽ sử dụng.
Văn Linh (Theo WindowsNetworking)
|
đăng 11:08 02-08-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Microsoft mới công bố Windows 7 RTM (Release To Manufacturing
- phiên bản hoàn thiện sẽ được đưa vào sản xuất, đóng gói) nhưng nhiều
người đã có trong tay hệ điều hành này từ các trang chia sẻ file.
Giám đốc Microsoft Steve Ballmer cho biết RTM không có thêm tính năng
gì mới so với bản Release Candidate mà chỉ được vá một số lỗi và bổ
sung vài thay đổi nhỏ.
Bản Build 7600.16385 bị phát tán trên một số website từ 16/7 và khi
Microsoft tuyên bố vào ngày 22/7 rằng đó chính là đoạn mã hoàn thiện (final code) mà họ sẽ cung cấp cho nhà sản xuất, hàng nghìn người đã "săn tìm" bản này trên các dịch vụ chia sẻ ngang hàng.
Mã Build 7600 đầu tiên xuất hiện trên BitTorrent là bản 64 bit tiếng
Trung, tiếp đó bản 32 bit và 64 bit tiếng Anh, Đức, Italy... cũng lần
lượt được đưa lên. Microsoft không thể ngăn chặn tình trạng chia sẻ lậu
các sản phẩm của họ trên mạng. Trước đó, Windows 7 Beta và Release
Candidate cũng bị rò rỉ trước ngày công bố chính thức.
Theo lộ trình của tập đoàn phần mềm Mỹ, các chuyên gia đăng ký thành
viên trên MSDN hoặc TechNet sẽ nhận được Windows 7 RTM vào 6/8 còn
người dùng phổ thông phải chờ đến 22/10. Giá nâng cấp từ XP và Vista
lên Windows 7 nằm trong khoảng 119,99 USD đến 219,99 USD, còn bản hoàn
thiện có giá 199,99 - 319,99 USD.










Cài đặt Windows 7.

Các ứng dụng nhỏ Desktop Gadget.

Windows Explorer.

Kho dữ liệu Libraries.

Game.

Control Panel.

Windows Personalization.

Các thiết bị ngoại vi.


Windows Media Center.


Windows Media Player 12.

Windows Internet Explorer 8.



Paint, WordPad và Calculator.
Theo VnExpress
|
đăng 10:00 26-07-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Nếu một ngày chiếc
máy tính sử dụng hệ điều hành Windows XP của bạn dở chứng hoặc không
thể khởi động vào Windows được, bạn có thể sử dụng công cụ System
Restore để trở lại thời điểm gần nhất máy tính còn hoạt động tốt. Bài
viết sau đây sẽ giúp bạn sử dụng công cụ này một cách hiệu quả.
System Restore cho phép bạn đưa máy tính trở lại
trạng thái ở thời điểm hoạt động gần nhất nếu như có sự cố xảy ra. Để
thực hiện được điều này, System Restore liên tục giám sát hệ thống của
bạn. Nếu hệ thống có bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào - chẳng hạn như có
ứng dụng hoặc driver mới được cài đặt - System Restore sẽ tự động tạo
điểm phục hồi (restore point).

Ngoài ra, System Restore cũng tạo điểm phục hồi sau
mỗi 24 tiếng. Điểm phục hồi thực chất giống như tấm ảnh chụp lại trạng
thái hệ thống, bao gồm những tệp tin hệ thống quan trọng và một phần
registry. System Restore duy trì nhiều điểm phục hồi, cho phép bạn có
nhiều lựa chọn hơn trong việc khôi phục hệ thống trở lại trạng thái đã
lưu giữ trước đó.
Sau đây là 10 điều bạn cần biết để khai thác tối đa công cụ System Restore của Windows XP.
1, Dữ liệu và System Restore
Vì System Restore được mô tả như một công cụ cho
phép bạn khôi phục máy tính trở về thời gian trước, thế nên có nhiều
người tưởng nhầm rằng họ sẽ mất hết những dữ liệu được tạo sau điểm
phục hồi. Tuy nhiên, System Restore không giám sát hoặc lưu giữ nội
dung thư mục My Documents hay những tệp tin có phần đuôi mở rộng phổ
biến như .doc, .xls, email, lịch sử trình duyệt hoặc ngay cả những tệp
tin lưu mật khẩu. Tất cả những dữ liệu đó không hề bị đụng đến và sẽ
còn nguyên vẹn khi bạn khôi phục hệ thống.
Lưu ý rằng Desktop không phải thư mục được bảo vệ và
tất cả những tệp tin trong đó có thể bị mất trong quá trình phục hồi.
Vì thế trước khi bạn tiến hành khôi phục hệ thống, hãy di chuyển những
gì quan trọng trong Desktop tới thư mục My Documents.
2, Rút lại quá trình phục hồi
Trong trường hợp bạn tiến hành phục hồi hệ thống
nhưng sau đó xác định rằng vấn đề vẫn chưa được giải quyết, bạn hoàn
toàn có thể rút lại thao tác trên. Trước tiên bạn chạy System Restore,
khi thấy màn hình chào Welcome To System Restore, chọn Undo My Last Restoration, click Next. Trên màn hình Confirm Restoration Undo, click Next.
System Restore sẽ trả hệ thống về thời điểm trước khi bạn tiến hành quá
trình phục hồi và khởi động lại máy tính. Sau khi máy tính đã khởi động
lại, nếu bạn đăng nhập vào Windows và nhìn thấy màn hình System Restore’s Undo Complete có nghĩa là quá trình đã hoàn tất.
3, Chạy System Restore từ dòng lệnh
Nếu máy tính không thể khởi động Windows một cách
bình thường, đồng thời cũng không thể vào được giao diện Safe Mode, bạn
vẫn có thể khởi chạy System Restore. Đầu tiên khởi động hệ thống bằng
tùy chọn Safe Mode With Command Prompt. Sau khi đăng nhập vào hệ thống, gõ dòng lệnh sau:
%systemroot%\system32\restore\rstrui.exe
Nhấn Enter, System Restore sẽ chạy như bình thường. Vậy là bạn có thể tiếp tục thực hiện từng bước để tiến hành phục hồi hệ thống.
4, Xóa bỏ các điểm phục hồi
Theo mặc định, System Restore dành tối đa 12% dung
lượng trống của ổ đĩa cứng để lưu trữ các điểm phục hồi. Một khi đã tới
hạn tối đa 12%, System Restore sẽ loại bỏ bớt những điểm phục hồi cũ
nhất trong cơ sở dữ liệu để dành chỗ cho những điểm mới. Tuy nhiên, đôi
khi bạn có nhu cầu chủ động xóa bớt các điểm phục hồi để giải phóng ổ
cứng. Thật may, công cụ Disk Cleanup sẽ giúp bạn thực hiện việc đó. Nó
cho phép bạn xóa toàn bộ các điểm phục hồi, chỉ để lại một điểm mới
nhất.
Khởi chạy Disk Cleanup từ Start - All Programs - Accessories - System Tools. Khi Disk Cleanup đã chạy, chọn thẻ More Options và click nút Cleanup trong phần System Restore rồi xác nhận lại.
5, Kiểm soát dung lượng đĩa cứng System Restore sử dụng
Để vận hành trơn tru, System Restore yêu cầu ổ cứng
còn trống tối thiểu 200 MB. Nếu dung lượng trống còn nhiều, System
Restore sẽ sử dụng 12% số đó để lưu trữ các điểm phục hồi. Tuy nhiên,
System Restore sẵn sàng nhường lại phần dung lượng trống này cho hệ
thống nếu cần. Thêm nữa, các điểm phục hồi cũ hơn 90 ngày sẽ tự động bị
xóa theo mặc định.
Nếu bạn muốn biết System Restore dành bao nhiêu MB dung lượng ổ cứng để lưu trữ, nhấn tổ hợp phím Windows + Break để mở hộp thoại System Properties. Chọn thẻ System Restore, chọn tiếp ổ cứng từ danh sách Available Drive rồi click nút Settings. Khi hộp thoại Drive Settings xuất hiện, nhìn vào phần Disk Space Usage bạn sẽ thấy con số thể hiện dung lượng ổ cứng tính theo MB mà System Restore dùng để lưu trữ các điểm phục hồi.
Ví dụ, trên hệ thống có ổ cứng 80 GB, 12% dành cho
System Restore tương đương gần 9 GB. Nếu bạn cảm thấy System Restore
chiếm dụng quá nhiều đĩa trống, hãy dịch thanh trượt sang trái để chỉ
định một con số hợp lý hơn.
6, Tự tạo điểm phục hồi
System Restore tự động tạo các điểm phục hồi, tuy
nhiên bạn có thể tự tay tạo điểm phục hồi bất cứ lúc nào cần thiết. Đơn
giản chỉ cần khởi chạy System Restore sau đó làm tiếp theo hướng dẫn.
Nếu bạn muốn tiết kiệm một vài bước nhỏ, hãy đơn giản hóa quá trình
khởi chạy bằng cách copy biểu tượng Shorcut của System Restore từ Start - All Programs - Accessories - System Tools ra desktop.
7, Bỏ qua thuật sĩ hướng dẫn
Nếu bạn muốn tự tạo một điểm phục hồi mà không cần
phải qua các bước lần lượt theo thuật sĩ hướng dẫn, bạn có thể viết một
đoạn VBScript đơn giản để tạo ngay một điểm phục hồi.
Mở Notepad và gõ vào hai dòng lệnh sau:
Set IRP = getobject("winmgmts:\\.\root\default:Systemrestore")
MYRP = IRP.createrestorepoint ("My Restore Point", 0, 100)
Lưu tệp tin với tên MyRestorePoint.vbs. Từ
giờ bạn có thể dễ dàng tạo điểm phục hồi bằng cách nhấn đúp vào biểu
tượng script vừa tạo. Ngay sau đó, System Restore sẽ chạy ở chế độ nền
mà không hiển thị giao diện và tạo một điểm phục hồi có tên My Restore
Point.
8, Các bước để tránh khôi phục lại Virus
Nếu bạn biết hệ thống của mình đã nhiễm virus, bạn
nên tạm thời tắt ngay System Restore. Nếu không, virus sẽ được lưu trữ
cùng với những tệp tin hệ thống trong một điểm phục hồi rồi sau này sẽ
trở lại trong quá trình phục hồi.
Để tắt System Restore, nhấn tổ hợp phím Windows + Break. Khi hộp thoại System Properties xuất hiện, chọn thẻ System Restore, đánh dấu ô kiểm Turn Off System Restore rồi click OK.
Ngay sau đó bạn sẽ nhận được hộp thoại cảnh báo rằng việc tắt System
Restore sẽ khiến toàn bộ các điểm phục hồi cũng bị xóa mất. Click Yes để tiếp tục.
Tới lúc này, bạn có thể dùng các chương trình diệt virus để quét sạch hệ thống. Khi đã diệt virus xong, bạn vào lại thẻ System Restore, bỏ chọn Turn Off System Restore rồi click OK để khởi động System Restore.
9, Vô hiệu hóa System Restore cho ổ lưu trữ dữ liệu
Nếu bạn có thêm vài ổ đĩa cứng kết nối với máy tính,
System Restore sẽ tự động thêm chúng vào danh sách ổ đĩa giám sát. Nếu
các ổ cứng bổ sung này chỉ dùng để lưu trữ dữ liệu hoặc sao lưu dự
phòng thì System Restore không cần thiết phải theo dõi chúng.
Để vô hiệu hóa System Restore cho ổ lưu trữ dữ liệu, nhấn tổ hợp phím Windows + Break. Hộp thoại System Properties xuất hiện, chọn thẻ System Restore. Tiếp đó chọn ổ cứng của bạn từ danh sách Available Drive rồi click nút Settings. Khi hộp thoại Drive Settings xuất hiện, đánh dấu chọn Turn Off System Restore On This Drive rồi click OK.
Bạn sẽ nhận được hộp thoại cảnh báo rằng việc tắt System Restore trên ổ
này sẽ khiến bạn không thể theo dõi những thay đổi có hại trên nó.
Click Yes để tiếp tục. Cuối cùng click OK để đóng hộp thoại System Properties.
10, Xác định dung lượng ổ cứng thực tế System Restore đang sử dụng
Bạn dễ dàng xác định được System Restore có khả năng
dùng bao nhiêu MB ổ cứng. Tuy nhiên, thực tế thì System Restore đang sử
dụng dung lượng ổ cứng là bao nhiêu? Nếu bạn đang chạy hệ điều hành
Windows XP Professional và ổ cứng sử dụng định dạng NTFS, bạn có thể
trả lời được câu hỏi trên.
Bạn sẽ khởi đầu bằng việc thực hiện một vài thay đổi
từ tài khoản Administrator nhằm cho phép bạn điều tra một thư mục ẩn và
được bảo vệ - mang tên System Volume Information - nằm trên thư mục gốc
của ổ cứng. Lưu ý rằng thực hiện bất kỳ thay đổi gì trong thư mục
System Volume Information cũng sẽ gây hại tới khả năng vận hành của
System Restore.
Từ Windows Explorer, chọn Tools - Folder Options để mở hộp thoại Folder Options. Chọn thẻ View, đánh dấu chọn Show Hidden Files And Folders, bỏ chọn Hide Protected Operating System Files rồi click Yes trên hộp thoại cảnh báo. (Nếu hệ thống nằm trong một nhóm làm việc workgroup, bạn cần bỏ chọn cả Use Simple File Sharing.) Click OK để đóng hộp thoại Folder Options.
Bây giờ vào thư mục gốc trên ổ cứng, click chuột phải vào thư mục System Volume Information, chọn Properties, vào thẻ Security. Sau đó, click nút Add, nhập tên tải khoản người dùng của bạn vào hộp thoại Select Users Or Groups rồi click OK hai lần để đóng cả hai hộp thoại.
Tới lúc này, bạn có thể mở thư mục System Volume Information, click chuột phải vào thư mục _restore, chọn Properties. Kiểm tra giá trị Size On Disk
để biết chính xác dung lượng thực tế mà System Restore đang sử dụng để
lưu trữ các điểm phục hồi. Để đảm bảo tính bảo mật cho các tệp tin của
điểm phục hồi, bạn nên xóa tài khoản người dùng của mình khỏi thư mục
System Volume Information sau khi đã hoàn tất việc điều tra.
Linh V. (Theo TechRepublic)
|
|