đăng 18:40 03-12-2010 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Trong bài hướng dẫn này, chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn cách tạo thiệp Giáng sinh trên Photoshop. Ngoài nội dung chính là số 2010 trên thiệp, bạn có thể thêm vào lời chúc hoặc hình ảnh phù hợp.
|
Tạo một file mới (Ctrl + N) trên Photoshop với kích thước 1920x1200px (chế độ RGB) với Resolution là 72 pixels/inch. Dùng công cụ Rectangle Tool (U) để vẽ một hình chữ nhật bao trùm toàn bộ độ rộng của file với màu nền là màu tùy ý.

Chọn hình chữ nhật vừa vẽ, vào Layer > Layer style > Gradient Overlay

Kích vào thanh Gradient màu để mở phần Gradient Editor và thiết lập màu như hình sau. Kích vào OK sau khi đã thiết lập xong màu.

Kết quả chúng ta sẽ có ảnh nền màu như sau:

Tạo một layer mới và chọn brush Soft Round trên công cụ Brush (phím tắt B)

Tùy chỉnh brush này trong panel Brushes (F5), chọn Brush Tip Shape. Kích và kéo bất kỳ slider nào để thay đổi Size, Hardness và Spacing như hình dưới. Phần Preview windows sẽ hiển thị mọi thay đổi với brush.

Vào phần Shape Dynamics thiết lập như sau:

Sau đó là các thiết lập phần Scattering:

Thay đổi Foreground color thành #CE0000 và sử dụng brush vừa tạo để vẽ bóng của tuyết rơi.

Trên layer mới tiếp theo, bạn vẫn áp dụng brush trước đó nhưng lớn
hơn một chút về kích thước, màu thì tương tự như màu phần sáng của nền
background.

|
|
Trên phần giữa của file, bạn hãy chèn vào số 2010 bằng cách sử dụng công cụ Horizontal Type (T). Chọn một font chữ, kích thước và màu sắc phù hợp trong bảng điều khiển Character:

Kích vào nền bức ảnh và nhập số 2010 vào, nhấn Enter sau khi nhập xong.

Thiết lập Fill là 40% cho layer 2010 mới tạo và kích vào Add a layer style ở phần dưới cùng của panel Layers, kích chọn Outer Glow:

Chúng ta sẽ được hiệu ứng mới của chữ như sau:

Bước tiếp theo là download một số thiết lập hoa văn brush cho Photoshop tại đây, tên của nó là Floral ornaments. Tạo một layer mới, vào Brush Tool (B), thiết lập chọn brush vừa download.

Thay đổi màu Foreground thành màu trắng và sử dụng brush vừa chọn để vẽ hoa văn các góc như hình sau:

Tạo một layer mới và chọn brush Soft Round đã sử dụng trước, vẫn chọn màu là trắng và điểm một số brush trắng như hình sau:

Thiết lập Fill thành 60% cho lớp này

Tạo một lớp mới, vẫn sử dụng brush Soft, màu trắng và tạo thêm một số điểm chấm:

|
|
Chọn Ellipse Tool (U) và vẽ một quả cầu trang trí giáng sinh vào giữa số 0

Chọn Add a layer style ở phần dưới cùng của panel Layers và kích chọn Inner Shadow:

Thiết lập Gradient Overlay:

Kích lên thanh Gradient màu để mở Gradient Editor và thiết lập màu như hình dưới. Kích OK sau khi đã chọn xong

Chúng ta có kết quả như sau

Chọn công cụ Rounded Rectangle Tool (U) (thiết lập Radius là 10px trên thanh Options) và vẽ thêm núm của quả cầu. Xoay nó nghiêng đi một chút với công cụ Free Transform (Ctrl + T).Núm sẽ là một lớp riêng và đặt dưới lớp của quả cầu. Màu sắc sử dụng cho thành phần này là #FEDF36

Dùng công cụ Pen Tool (P) để vẽ thêm viền trang trí cho núm quả cầu. Chọn màu là #FB2D0C. Layer này sẽ phải đặt dưới layer cầu nhưng trên layer núm cầu

Điều cần làm bây giờ là vẽ một móc treo quả cầu trang trí, sử dụng công cụ Ellipse Tool (U). Layer này sẽ đặt dưới layer núm quả cầu.

Thiết lập Fill là 0%. Vào phần Add a layer style ở phía dưới cùng của panel Layer và chọn Stroke:

Kích lên thanh màu để mở phần Gradient Editor và thiết lập màu như hình dưới. Sau đó kích OK để đóng hộp thoại Gradient Editor.

Vậy là chúng ta đã hoàn thiện phần khung của quả cầu trang trí

|
|
Chọn brush Soft Round từ Brush Tool (B)

Tạo một layer mới và sử dụng brush vừa chọn vẽ một điểm sáng phía góc phải của quả cầu.

Chọn mục Add layer mask từ phần phía dưới của panel Layer. Thay đổi màu Foreground thành màu đen, chọn brush Soft Round với màu là màu đen để xóa những thành phần không cần thiết:

Cần vẽ thêm một khoảng trắng sáng ở phía góc bên phải quả bóng, sử dụng công cụ Pen (P)

Dùng công cụ Custom Shape Tool (T) để vẽ thêm các bông tuyết vào quả cầu (màu bông tuyết là #F84202)


Group toàn bộ layer vẽ quả cầu giáng sinh vào một nhóm (nhấn Ctrl trong lúc chọn các lớp, sau đó kéo các lớp được chọn đó vào biểu tượng Create new group tại phần dưới cùng của panel Layer. Tạo một bản sao của group vừa tạo sau đó chọn công cụ Free Transform (Ctrl + T) và xoay nó đi một chút để đưa vào số 0 thứ 2:

Bước cuối cùng là tạo các ngôi sao nhỏ bằng công cụ Custom Shape Tool (U)

Và đây là kết quả cuối cùng:

|
TH-HT - QuanTriMang |
đăng 18:38 03-12-2010 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Những chương trình như Photoshop cho phép người dùng hiện nay dễ dàng hơn trong việc thiết kế và học thiết kế. Chỉ cần học cách sử dụng Type Character Panel là đã có thể dễ dàng cá nhân hóa những bức ảnh của bạn.

Panel Fonts và Character
Trong khi các chương trình như Adobe Illustrator là lựa chọn phù hợp
để xử lý hình khối trừu tượng của các font chữ, thì Photoshop chỉ đơn
giản là sử dụng các thành phần font chữ có sẵn. Tuy nhiên, nó cũng có
một vài tùy chọn chỉnh sửa cơ bản để việc trình bày chữ không quá đơn
điệu.
Panel Character có thể tìm thấy bằng cách vào Window > Character (nếu
bạn không nhìn thấy nó ở panel phía bên phải màn hình làm việc). Panel
này chứa khá nhiều tùy chọn với chữ mà bạn có thể thử qua.

Font Family: Tại đây bạn có thể lựa chọn font cho đối tượng chữ (như font Arial, Times New Roman…)
Font Style: Thông thường một font được cài đặt ra sẽ
đi kèm với một hệ thống font có liên quan bao gồm kiểu đậm, kiểu
nghiêng… (ví dụ như Arial, Arial Bold, Arial Narrow, Arial Condensed,
Arial Rounded MT, Arial Black…)
Font Size: Đây là nơi bạn sẽ thay đổi kích thước của font chữ. Tự nhập số vào ô hoặc sử dụng trình đơn thả xuống để chọn.
Leading: Thông thường Photoshop mặc định đặt một
khoảng cách phù hợp giữa các dòng trong cùng một nội dung văn bản, tuy
nhiên trong một số trường hợp nào đó bạn cần thay đổi lại khoảng cách
này thì đây là lựa chọn cần sử dụng tới.
Kerning và Tracking: Lựa chọn này
cho phép tăng hoặc giảm khoảng trống giữa các chữ cái. Giá trị 0 là
khoảng cách mặc định, tăng hoặc giảm giá trị này sẽ tương đương với việc
tăng/giảm khoảng trống.
Vertical Scale và Horizontal Scale: Đây là điều khiển dùng để kéo dài hoặc tăng độ dẹt của chữ, giá trị nhập ở đây tương ứng với tỉ lệ % chữ ban đầu.
Baseline Shift: Tùy chọn này dùng để đẩy những chữ
đang được bôi đen lên cao hơn (hoặc thấp xuống) so với các chữ còn lại.
Tùy chọn này phù hợp để đánh chỉ số trên (hoặc dưới) trong một đoạn văn
bản. Giá trị >0 sẽ tương đương với việc đẩy chữ lên cao, giá trị
<0 tương đương đẩy chữ xuống thấp.
Text Color: Đây là lựa chọn điều chỉnh màu sắc cho chữ đang được chọn.
Language: Tùy chọn này dùng để thiếp lập các ngôn ngữ không phải tiếng Anh trong một số trường hợp cần thiết.
Anti-Aliasing: Tùy chọn dùng để chỉnh chữ theo từng
pixel điểm ảnh. Lượt qua một loạt lựa chọn trong tùy chọn này bạn sẽ
thấy điểm khác biệt với từng kiểu khác nhau.
Faux Bold và các tùy chọn Character khác
Faux Bold:
Nếu kiểu font chữ hiện tại bạn đang chọn đã là chữ đậm nhưng vẫn chưa
ưng ý về độ “đậm” của nó, bạn có thể sử dụng thêm tùy chọn này để tăng
thêm độ dày cho chữ.
Faux Italic: Tương tự như Faux Bold, tùy chọn này dùng để tăng thêm độ nghiêng của chữ.
Uppercase:
Chuyển toàn bộ font chữ của bạn thành chữ hoa. Rất hữu ích trong việc
văn bản đang cần chuyển sang chữ hoa là đoạn văn bản dài.
Small Caps:
Vẫn là lựa chọn để tạo chữ hoa cho toàn bộ đoạn văn bản, tuy nhiên tùy
chọn này có khác biệt là những chữ thường được tạo thành hoa sẽ nhỏ hơn
một chút so với những chữ đã được viết hoa sẵn.
Superscript: Thay đổi chữ hoặc đối tượng chữ đang được chọn thành chỉ số trên, ví dụ như 28
Subscript: Thay đổi chữ hoặc đối tượng chữ đang được chọn thành chỉ số dưới, ví dụ như C6H12O6.
Underline: Thêm một đường gạch chân vào dưới đoạn văn bản đã chọn
Strikethrough: Thêm một đường gạch ngang thông qua tất cả các văn bản đang chọn.
Options Panel và Type Tool
Có một vài tùy chọn không có trong Character Panel nhưng bạn có thể
tìm thấy trong thanh công cụ phía trên màn hình làm việc – Options Panel
– khi đang chọn công cụ Type (T)

Text Orientation: Tùy chọn này dùng để điều chỉnh hướng của văn bản theo chiều dọc hay chiều ngang.
Alignment: Thiết lập canh lề cho các đối tương văn bản đã được xác đinh theo lề trái (Left Aligned), lề phải (Right Aligned) hay canh giữa (Center Aligned)
Warp Text:
Uốn đối tượng văn bản theo một hình dạng xác định, hình dạng này cũng
có thể điều chỉnh độ cong/nghiêng sao cho phù hợp. Tùy chọn này thường
được sử dụng trong trường hợp đối tượng văn bản tạo ra là biểu ngữ..
|
Thiết kế một bìa sách dạng đơn giản
Thiết kế phải đi kèm với ứng dụng thực tế thì người dùng mới nắm rõ
được những kiến thức cơ bản áp dụng hữu ích như thế nào. Hướng dẫn trong
mục này là tạo một bìa sách cơ bản, cuốn sách On The Origin of Species By Mean of Natural Selection của tác giả Charles Darwin.

Nhấn Ctrl + L để mở công cụ Levels và điều chỉnh lại
bức ảnh của Darwin. Trong thiết kế thì việc bố trí vị trí phù hợp để
trình bày các thành phần là khá cơ bản.

Khi bức ảnh đã được làm tối đi, vào Image > Mode > Grayscale, giữ Ctrl và kích chuột vào channel Gray trong Panel Channels. Thao tác này sẽ tạo ra một vùng lựa chọn tất cả các vùng màu còn trắng của bức ảnh.

Nhấn Ctrl + Shift + N để tạo một lớp mới

Vào Edit > Fill để phủ lớp màu trắng lên vùng lựa chọn của lớp vừa tạo.

Bức ảnh biểu tượng Darwin giờ đã nổi bật khỏi nền đen và bạn có thể sử dụng như một phần tử để tạo bìa

Nhấn Ctrl + N để tạo một file mới ở kích thước cần tạo bìa của bạn.

Và đây là khung làm việc rất dài, tương đương với quyển sách

Chọn màu foreground bất kỳ trong hộp công cụ, màu tối là phù hợp hơn cả.

Vào Edit > Fill để đổ màu Foreground cho nền sách

Nền lúc này sẽ có màu rượu vang như đã chọn trước đó.

Nhấn phím V để lựa chọn công cụ Move. Mở tập tin gốc
có bức ảnh Darwin đã sửa trước đó và kéo layer ảnh bạn vừa sửa vào ảnh
khung làm việc của ảnh mới với công cụ Move.

Lớp ảnh vừa kéo nên nằm phía trên lớp nền của file mới.

Nhấn phím T hoặc chọn công cụ Type

Không phải tất cả các font chữ đều phù hợp. Font theo pixel điểm là không phù hợp trong trường hợp này.

Một font cổ điển sẽ phù hợp hơn.

Để chọn được font chữ phù hợp không hoàn toàn đơn giản, nó có thể là
việc khó khăn và gây tốn thời gian nhất, nhưng lại là việc quan trọng
nhất của thiết kế.

Thay đổi kích thước font và chia tiêu đề sách thành 2 dòng. Khi đã
chọn được font phù hợp, điều chỉnh Character Panel để có được định dạng
phù hợp.


Sau khi điều chỉnh xong kích thước, bạn cần điều chỉnh thêm về Leading

Sau đó là đến vấn đề khoảng cách giữa các chữ cái. Tăng kích thước của Tracking để cho tiêu đề dễ đọc

Bổ xung thêm thông tin vào tiêu đề với font chữ nhỏ hơn và sắp xếp lại ảnh Darwin


Bạn có thể bổ xung thêm các yếu tố hình ảnh phụ họa vào để bớt phần đơn điệu của trang bìa.

Chỉ cần vài điểm xuyến cơ bản, bạn đã có được một bức ảnh bìa sách
khá đơn giản mà vẫn đẹp. Thiết kế không phải là việc tìm hay vẽ được một
hình ảnh nào đó đẹp mà là việc phải tìm được chỗ để đặt hình ảnh đó một
cách phù hợp.
TH - HT
|
|
đăng 18:33 03-12-2010 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Đối với bạn đọc ưa thích nghệ thuật, Photoshop cung cấp khá nhiều tùy chọn cho việc vẽ kỹ thuật số. Cho dù việc vẽ của bạn là "nghề" hay chỉ đơn giản là muốn vẽ cho vui, hoặc để học tập thì công cụ vẽ của Photoshop cũng rất bổ ích.

Nếu bạn luôn muốn trở thành dân vẽ ảnh nghệ thuật số nhưng chưa bao
giờ dành nhiều thời gian để tìm hiểu Photoshop thì bài hướng dẫn này sẽ
giúp bạn bắt đầu một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất.
Bắt đầu với công cụ Brush

Brush (phím tắt là B) là công cụ quan trọng nhất của Photoshop. Nó có
thể là công cụ phức tạp nhất so với các công cụ trong chương trình và
thường thì dân mới vào “nghề” ít sử dụng đến nó. Có một loạt các tùy
chọn trên panel Brush, bạn sẽ phải làm quen lần lượt với các mẫu vẽ nghệ
thuật trên panel này. Nếu không tìm thấy panel Brush, hãy vào Window > Brush để mở bảng điều khiển.

CS5 cho phép lựa chọn được nhiều hơn các công cụ Brush trong bảng tùy
chọn trên màn hình. Tại đây bạn có thể điều chỉnh mức độ mờ, kích thước
và các tùy chọn khác…

Bạn sẽ thấy nhiều tùy chọn khác cho công cụ Brush bằng cách kích
chuột phải vào vùng làm việc. Đối với mục đích của bài hướng dẫn này,
chúng tôi sẽ tránh sử dụng brush phức tạp trong hình đầu tiên, và chủ
yếu sử dụng bảng tùy chọn từ menu chuột phải (hình trên).
|
Cần một Graphics Tablet?

Mặc dù nó không phải là thiết bị hoàn toàn cần thiết cho
dân đồ họa số nhưng USB Graphics Tablet giúp nâng cao kinh nghiệm
Photoshop của bạn lên rất nhiều. Tuy nhiên những thiết bị này cũng không
phải rẻ, một số thương hiệu chỉ có giá từ 100-200$ nhưng cũng có những
loại lên đến 2,000$.
Rất nhiều tính năng brush hay nhất lại không sử dụng được
khi không có tablet. Với thiết bị này thì bạn có thể vẽ mượt mà hơn
bằng bút – một cách vẽ mà bạn không thể thể hiện bằng chuột.

WACOM là một thiết bị Tablet đồ họa phổ biến nhưng chúng
không phải chỉ do một công ty sản xuất. Các tablet trong hình trên là
Venus Waltop của công ty Waltop – Đài Loan.
Việc mua hay không mua một tablet là tùy thuộc vào nhu
cầu của bạn. Nếu bạn nghĩ rằng sẽ tận dụng được rất nhiều công dụng từ
nó để làm việc một cách hiệu quả thì việc đầu tư 100 – 300$ cho một
thiết bị này là điều nên làm.
|
|
Hướng dẫn sử dụng Brush Tool
Nhấn Ctrl + Shift + N để tạo ra một file mới. Làm từng bước theo hướng dẫn dưới đây để có thể nắm rõ hơn về cách sử dụng các công cụ Brush có sẵn.

Đây là một thiết lập dạng cơ bản để có thể nắm rõ cách làm việc của
Brush. Nhấp chuột phải để mở ra menu ngữ cảnh và chọn brush đầu tiên “Soft Round”. Bạn có thể điều chỉnh kích thước của đầu vẽ với thanh trượt trên cùng (Size)

Một đường stroke màu đen sẽ được vẽ ra nền trông tương tự như thế này

Vào bảng tùy chọn ở phía trên khung làm việc và thiết lập Opacity xuống 50%

Vẫn kích và kéo chuột vẽ một đường stroke lên màn hình làm việc,
đường vẽ sau này cùng một màu sắc nhưng mờ hơn so với nét vẽ đầu tiên.

Chuột phải lên nền màn hình làm việc để mở menu ngữ cảnh một lần nữa, lần này bạn chọn tùy chọn thứ hai “Hard Round”

Vẫn để thiết lập Opacity như thiết lập trước, đường nét vẽ ra sẽ có
“độ cứng” hơn so với kiểu Brush đầu tiên. Tùy chỉnh từng thành phần trên
thanh tùy chọn để trải nghiệm từng sự thay đổi khác nhau.


Tương tự như Opacity là thiết lập Flow. Trả lại thiết lập Opacity về 100% và thiết lập Flow thành 50%

Bạn sẽ thấy ngay lập tức các đường vẽ khác nhau.

Phóng to hình ảnh chúng ta sẽ thấy nét vẽ có điểm khác biệt gì. Với
Opacity thì nét vẽ mượt hơn còn Flow thì tạo ra những hình ảnh liên tục
của nét vẽ (hình tròn). Sự khác biệt này đôi khi làm người dùng cảm thấy
bối rối.

“Airbrush Mode” là một tùy chọn khá khó hiểu. Gần
như mọi phiên bản gần đây của Photoshop đều có biểu tượng Airbrush này
trong bảng tùy chọn. Kích vào nó để chúng ta cùng tìm hiểu sự khác biệt.


Tùy chọn này sẽ tạo ra một nét vẽ có “độ mềm” rộng hơn


|
|
Vẽ cảm giác thật hơn với Tablet
Vẫn sử dụng brush vừa chọn, bạn hãy thử trên talbet đồ họa và chọn tùy chọn ở ngoài cùng bên phải “Tablet pressure controls size”

Một nét vẽ với đầu vẽ bắt đầu rất nhỏ và độ mờ ít và dần phát triển ra.

Còn có một tùy chọn khác là “Tablet pressure controls opacity” sẽ tương tự thay đổi độ mờ đục của nét vẽ từ nhẹ sang đậm hơn


Dưới đây là ứng dụng của dòng đầu tiên trong bảng Brush với việc thiết lập độ mờ nhạt của nét vẽ theo nhiều cách thú vị.

Và các nét vẽ khác




|
|
Vẽ tranh thời kỹ thuật số với brush
Thay vì việc scan một bức ảnh vẽ tay, bạn có thể chụp lại bức ảnh và
dùng các công cụ brush để tô lại ảnh sao cho giống ảnh vẽ thông thường
bằng mực.

Bạn nên làm việc ở độ phân giải in tốt nhất. Một khi đã phát họa xong hình ảnh, bạn có thể vào Image > Image Size để chỉnh lại kích thước.

300 pixels/inch là một độ phân giải in khá chuẩn. Mở rộng hình ảnh
này lên 10 inch tạo ra một bức ảnh rộng 3,000 pixel, với kích thước này
bạn có thể vẽ bất cứ hình ảnh nào phù hợp.

Tạo một lớp điều chỉnh màu sắc (adjustment) lên trên layer ảnh. Tùy
chỉnh bất cứ màu sắc hay ánh sáng ảnh thế nào là phù hợp nhất.

Theo ví dụ này chúng tôi sẽ để màu sắc ánh sáng là màu hồng, thay đổi Blending Mode với tùy chọn Blend Mode là Screen.


Tạo một layer mới để bắt đầu vẽ một lớp ảnh số.

Chọn công cụ Brush hoặc Pencil để vẽ lại bức ảnh

Nếu bạn có tablet thì việc vẽ này vừa nhanh chóng lại dễ dàng.

Một kích thước brush đơn sẽ dễ dàng vẽ lên khung các đường nét với độ dày mỏng khác nhau
|
|
Để thêm màu sắc vào hình ảnh, bạn nên tạo layer mới (Ctrl + Shift + N) sau đó tạo một group cho nó. Phải đảm bảo phần layer màu sắc nằm dưới lớp nét vẽ ban đầu.

Thành phần Fill kết hợp với công cụ brush sẽ giúp nhanh chóng tô màu cho một khu vực hình ảnh.

Nếu bạn sử dụng fill màu trên nhiều lớp, bạn sẽ muốn check “All Layers” ở phía bên phải của các tùy chọn.

Thêm lớp mới cho mỗi màu sắc mới hoặc chỉ làm việc trên một lớp duy nhất – việc này tùy thuộc vào sở thích của bạn.


Việc làm việc với các lớp màu độc lập sẽ giúp dễ dàng chỉnh sửa hơn với các viền màu thừa


Với một hình ảnh phẳng hoàn toàn chưa có những lớp bóng thì hình ảnh
vẫn còn thiếu đi độ “thật”. Giảm đi phần Flow và thiết lập Opacity bình
thường, bạn có thể “đánh lên phần bóng” của hình ảnh.

Trong khi bức hình trên là thực hiện bằng chuột trên máy tính thông
thường thì bức hình dưới đây được vẽ chỉ trong khoảng thời gian 20’:

Chỉ cần điểm thêm một số điểm sáng tối nữa là bức tranh vẽ của bạn sẽ thực sự hoàn hảo.


|
|
đăng 00:08 28-11-2010 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Photoshop
có tên “Photoshop” là có lý do của nó, vì nó là một chương trình chuyên
chỉnh sửa ảnh. Bài này Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu sơ qua một số kỹ
thuật chỉnh sửa ảnh cơ bản và tìm hiểu làm cách nào để có thể cải thiện
một bức ảnh gia đình.

Cắt ảnh để có khung nhìn đẹp hơn
Thông thường khi chụp một bức ảnh kỹ thuật số, kết quả sẽ là một bức
ảnh với khung nhìn hơi rộng, khung nhìn loãng làm mờ đi trọng tâm của
hình ảnh. Một trong những điều cần làm đầu tiên đối với bức ảnh là “thử
nghiệm” công cụ cắt xén ảnh Crop.

Bấm C để chọn công cụ Crop. Sử dụng chuột để nhấp và
kéo tạo thành một khung chữ nhật bên trong bức ảnh (nếu cần xén ảnh
theo hình vuông thì giữ Shift trong quá trình nhấp kéo chuột)

Với khung chữ nhật đã được vẽ ra, bạn có thể di chuyển, thay đổi lại
kích thước cho chính xác hơn trước khi nhấn Enter để xén ảnh.

Bạn có thể undo lại thao tác với phím Ctrl + Z (undo nhiều lần thì
nhấn Ctrl + Alt + Z) và thực hiện lại thao tác xén ảnh nếu chưa ứng ý.

|
đăng 00:07 28-11-2010 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Photoshop có một hệ thống menu rất lớn với các tùy chọn mà không một người dùng nào có thể bỏ qua.

Bài hướng dẫn này của Quản Trị Mạng sẽ có một cái nhìn tổng quát các
menu, thông qua đó sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm công cụ
để chỉnh sửa ảnh phù hợp.
Thanh Menu

Đây là một thanh menu tổng quát các chức năng, nó nằm phía trên cùng
cửa sổ làm việc của Photoshop. Mỗi một nút là một menu tổng quát, chúng
ta sẽ lượt qua một loạt những menu này.
Menu File

Ngoài những tính năng hiển nhiên như New, Open, Close thì menu này
còn chứa rất nhiều tính năng khác mà sẽ khiến bạn phải bối rối
Browse in Bridge: Đây là một chương trình đi kèm với
Photoshop để duyệt hình ảnh. Nó cho phép người dùng quản lý ảnh dưới
dạng hình ảnh (chứ không phải chỉ tên file), tương tự như Google Picasa.
Bridgle là một chương trình khá hay tuy nhiên nó có thể gây phiền nhiễu
nếu bạn vô tình mở vì nó tốn khá nhiều thời gian để tải.
Browse in Mini Bridge: Mini Bridge là một phiên bản
live của Bridge duyệt ngay trong Photoshop (không phải mở chương trình
mới như Browse in Bridgle). Rất dễ sử dụng nhưng lại mất thời gian để
tải.

Open As: Đây có vẻ như là một mục tính năng có vấn
đề (hoặc có thể đã hỏng). Ý tưởng nhà sản xuất đưa ra là với tính năng
này có thể mở một loại file khác (ví dụ như một tập tin PSD có phân
lớp) dưới dạng file ảnh.
Open As Smart Object: Tạo một smart object từ một
file bất kỳ chỉ đơn giản bằng cách mở nó. Việc thay đổi kích thước và
chỉnh sửa Smart Object không ảnh hưởng tới tập tin gốc ban đầu, do đó
nếu bạn có kế hoạch thay đổi kích thước 1 đối tượng nhiều lần thì bạn
nên mở nó trong chế độ Smart Object.
Share my Screen và Create New Review:
Đây là các tính năng Adobe CS Live chỉ được cung cấp tới những người
dùng có đăng ký bản quyền và có tạo một tài khoản trên Adobe.com.

Device Central: Một chương trình riêng biệt hỗ trợ các ứng dụng cho điện thoại di động và smartphone.

Save for Web and Devices: Một loại ứng dụng dùng để
nén file thành các file dạng JPG, GIF, PNG hoặc các định dạng WBMP phù
hợp cho việc đăng tải lên web. Trong trường hợp này, Devices dùng để chỉ
các dòng máy smartphone.
Revert: Tải lại file từ điểm lưu lại gần nhất. Bạn
sẽ mất tất cả các thay đổi và History khi thực hiện thao tác này, tuy
nhiên việc này cũng có lợi ích riêng trong một số trường hợp.
Place: Chèn một file mới vào file đang mở, cho phép bạn thay đổi kích thước và chỉnh sửa như một đối tượng Smart Object.
Automate and Scripts: Tùy chọn này giúp cho những
chuyên gia sử dụng Photoshop thực hiện được nhanh chóng các chỉnh sửa
lặp đi lặp lại. Scripts là một tiện ích khác thú vị và đáng để xem xét,
kể cả với người dùng cơ bản. |
đăng 00:05 28-11-2010 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Một trong những thành phần chuẩn của Photoshop là Layers, nó chính là nền tảng để bạn có thể tạo nên những bức ảnh đẹp. Trong bài này, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu một vài thao tác sử dụng layer cơ bản để làm nổi bật một bức ảnh.

Bảng Layers là một trong những thành phần quan trọng nhất của
Photoshop, bất cứ khi nào sử dụng Photoshop bạn cũng mất rất nhiều thời
gian vào việc thao tác trên panel này.

Nếu không thấy hiển thị thành phần này trong cửa sổ làm việc, bạn có thể mở lại nó bằng cách vào menu Window > Layers (hoặc nhấn phím F7)

Dùng công cụ Lasso để tạo ra một hình dạng bất kỳ, trong trường hợp này, từ Layer sẽ được vẽ ra. Nhưng Lasso sẽ chưa tạo một layer mới, do đó bạn phải kích vào trong bảng Layers (hoặc nhấn Ctrl + Shift + N) để tạo 1 layer trắng.

Bạn có thể đưa vào layer mới này một file ảnh mới hoặc bất kỳ thành
phần nào tùy vào mục đích chỉnh sửa ảnh của bạn. Mặc định, một layer mới
được tạo ra sẽ ở dạng không nền (transparent)
Nếu muốn thêm nền vào layer mới này, bạn chỉ cần vào Edit > Fill và chọn màu cần đặt.

Màu nền layer mới trong ví dụ chúng tôi vừa làm là màu đen. Sau khi
đã đổ màu cho đối tượng vừa vẽ xong, hãy bỏ vùng chọn đi để thực hiện 1
thao tác khác. Để bỏ lựa chọn của một vùng, bạn chỉ cần nhấn Ctrl + D trên bàn phím.


Nhấn Ctrl + D để bỏ lựa chọn
Như bức ảnh trong ví dụ này, chữ Layer đã đè lên hỉnh ảnh đầu tên lửa và gây xấu cho bức ảnh, trong trường hợp này bạn cần chỉnh sửa lại vị trí của chữ Layer sao cho hợp lý.
Sử dụng công cụ Move Tool (phím tắt V) để di chuyển các layer được chọn trong panel Layers của Photoshop.

Theo như hình ảnh trên thì vị trí tàu con thoi vẫn bị chữ Layer che khuất, bạn có thể kéo, xoay nó theo một vị trí khác để không làm xấu đi bức ảnh gốc. |
đăng 00:04 28-11-2010 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Một
trong những điều hay nhất của Photoshop cũng là điều tệ nhất: đó là quá
tải các tùy chọn. Hãy xem lướt qua các panel mặc định để có thể nắm
được những tính năng nào cần dùng trong quá trình sử dụng Photoshop để
bạn có thể tìm lại khi cần.

Panel mặc định được đặt ở phía bên phải cửa sổ làm việc của
Photoshop. Nó chứa mọi thiết lập hữu ích cho người mới sử dụng
Photoshop, bạn có thể điều chỉnh, ẩn hoặc hiện chúng. Không gian làm
việc của Photoshop có thể rộng hơn giúp bạn thoải mái làm việc khi bạn
cho ẩn các thanh panel đi.

Mặc định thiết lập của các panel trong phần làm việc Essentials sẽ có
dạng như sau. Ngoài cửa sổ làm việc Essentials bạn còn có thể chọn các
khung làm việc khác như Design, 3D… bằng việc kích vào để lựa chọn thêm. Ngoài ra để khôi phục lại các panel trong từng khung làm việc bạn có thể lựa chọn Reset trong menu ngữ cảnh khi kích vào .

Các panel có thể được gộp lại bằng cách kích vào ở phía bên phải trên của panel.

Bạn có thể kéo panel đi bất kỳ vị trí nào thuận tiện cho việc sử dụng
bằng cách kích và kéo panel tương ứng ra khỏi vị trí cố định của nó.

Đương nhiên, panel cũng có thể được đặt lại đúng vị trí như ban đầu
bằng cách kéo về sát cạnh phải của cửa sổ Photoshop, cho đến khi bạn
thấy xuất hiện một thanh màu xanh phía bên phải cửa sổ.

|
đăng 00:02 28-11-2010 bởi Huỳnh Anh Kiệt
Photoshop
là một trong những chương trình chỉnh sửa ảnh mạnh với mọi trình độ, kỹ
năng nhưng lại là chương trình "đáng sợ nhất" đối với những người mới
bắt đầu. Trong loạt bài này, Quản Trị Mạng sẽ hướng dẫn từng
bước cơ bản cho người mới bắt đầu sử dụng Photoshop đặc biệt là Shop
CS5; tìm hiểu về các công cụ và những thao tác cơ bản nhất.

Sau khi cài đặt xong, bạn sẽ thấy giao diện của CS5 thay đổi khá
nhiều so với phiên bản cũ, trông chuyên nghiệp hơn với nhiều tính năng
"lạ" hơn.

Tùy chỉnh không gian làm việc
Bạn sẽ muốn thử xem qua các panel và palette sẵn có xem cái nào phù
hợp với công việc của mình. Trong những lựa chọn này, bạn sẽ thấy có sự
sắp xếp khác nhau về phần bảng màu và panel phù hợp với từng mục đích
công việc. Điều này khá thuận tiện khi bạn muốn có những chỉnh sửa khác
nhau cho bức ảnh ở chế độ Design hay Painting..

CS5 có chế độ lưu những tùy chỉnh không gian làm việc theo ý thích của bạn lại để có thể sử dụng sau này.

Nhấp vào >> để xem thêm về các tùy chọn không gian làm việc. Tạo một "New Workspace" và đặt tên nó theo ý bạn. Hãy chắc chắn kích vào 2 tùy chọn Keyboard Shortcuts và Menus cho không gian làm việc mới của bạn.
Chọn không gian làm việc bạn vừa tạo và tùy ý đặt các panel cần thiết cho công việc.

Tùy chỉnh Toolbox
 |
|
 |
Toolbox là nơi bạn có được tất cả các thao tác xử lý ảnh
từ trò chuột. Theo mặc định, nó bị khóa ở phía cạnh trái của màn hình
làm việc. Bằng cách nhấp vào phím mũi tên << bạn có thể mang toolbox này đặt tại bất kỳ vị trí nào trên phần không gian làm việc.
|
Tùy chọn Palette
Ở phía trên màn hình làm việc, ngay dưới thanh menu, bạn sẽ thấy các
bảng các tùy chọn. Khi lựa chọn các công cụ khác nhau trên toolbox, bạn
sẽ thấy các tùy chọn này thay đổi tùy vào từng công cụ.

Các công cụ trên Toolbox
 |
Rectangular Marquee Tool (phím tắt: M):
Đây là công cụ lựa chọn dạng cơ bản, lựa chọn vùng theo dạng hình khối
cơ bản (có thể là hình chữ nhật, elip, 1 dòng đơn hoặc 1 cột đơn. Nếu
muốn lựa chọn theo dạng hình vuông hoặc hình tròn cân đối thì giữ Shift
trong quá trình khoanh vùng. Nếu muốn thay đổi khung chọn giữa hình chữ
nhật và hình ellip thì nhấn Shift + M (hoặc chuột phải vào biểu tượng
công cụ trên thanh Toolbox và chọn hình như ý).
|
 |
Move Tool (phím tắt: V): Đây là
công cụ di chuyển. Nếu bạn đang chọn một vùng, sử dụng công cụ này để
di chuyển vùng chọn đó. Bạn cũng có thể di chuyển nhiều layer một lúc
sau khi đã chọn layer cần di chuyển.
|
 |
Lasso Tool (phím tắt: L): Đây
là một công cụ lựa chọn khác, công cụ này cho phép bạn vẽ nhanh một vùng
chọn. Vùng chọn này có thể là một hình dạng đặc biệt tùy theo từng phần
trên bức ảnh của bạn. Giữ Shift + L để thay đổi chế độ chọn khoanh vùng
(Lasso) hay đa giác (Polygonal hoặc Magnetic).
|
 |
Quick Selection Tool (phím tắt: W):
Đây là công cụ chọn vùng gần đúng. Kích biểu tượng bút vẽ vào một vùng
của bức ảnh, Photoshop sẽ đọc và cố gắng lấy vùng chọn có màu sắc tương
đồng. Nhấn Shift + W để thay đổi giữa công cụ Quick Selection Tool và
Magic Wand Tool.
|
 |
Crop Tool (phím tắt: C): Vẽ
thành một vùng chọn hình chữ nhật, sau đó cắt lấy bức ảnh nằm trong vùng
chọn đã vẽ. Công cụ này rất hữu ích thường được sử dụng để cắt xén một
bức ảnh có không gian hơi "thừa". Nhấn Shift + C để thay đổi giữa công
cụ Slice và Slice Select, một công cụ hữu ích để tạo ra nhiều hình ảnh
từ một hình duy nhất, thường sử dụng trong việc lên hình ảnh cho một
website.
|
 |
Eyedropper Tool (phím tắt: I): Chọn một màu bất kỳ từ tài liệu mà bạn đã mở. Shift + I để thay đổi giữa các công cụ: Color Sampler, Ruler và Note Tool.
|
 |
Spot Healing Brush Tool (phím tắt: J):
Rất hữu ích trong việc xóa các vết ố, trầy xước không mong muốn trên
ảnh. Nhấn Shift + J để thay đổi giữa Healing Brush, Patch Tool và công
cụ Red Eye (dùng để xử lý mắt đỏ)
|
 |
Brush Tool (phím tắt: B): Đây
là công cụ phứt tạp duy nhất trên Toolbox. Rất nhiều bài trên Quản Trị
Mạng đã hướng dẫn sử dụng công cụ này để vẽ các hình ảnh lặp đi lặp lại.
Nhấn Shift + B để lựa chọn lần lượt công cụ Pencil, Color Replacement
Tool, và Mixer Brushes.
|
 |
Clone Stamp Tool (phím tắt: S):
Đây cũng là một công cụ brush sửa ảnh khác, giữ Alt và kích chuột vào
vùng nền "nguồn" và sau đó kích chuột trái chọn vùng nền muốn "phủ" vùng
"nguồn" lên. Nhấn Shift + S để chọn các công cụ đóng dấu khác nhau.
|
 |
History Brush Tool (phím tắt: Y):
Làm việc song song với History Palette, bạn có thể "lấy lại màu gốc"
với công cụ này. Sử dụng như một công cụ lọc, bạn chọn phần muốn lấy lại
màu nền như ảnh gốc (phần được chọn phải nằm trong vùng đã bị thay đổi
nền). Nhấn Shift + Y để thay đổi giữa History Brush Tool và Art History
Brush Tool.
|
 |
Eraser Tool (phím tắt: E): Đây
là công cụ dùng để xóa một vùng ảnh. Nếu ảnh là layer Background hoặc bị
khóa thì vùng bị xóa sẽ lấy theo màu Background Color. Nhấn Shift + E
để chuyển giữa chế độ xóa Eraser, Background Eraser, hay Magic Eraser.
|
 |
Gradient Tool (phím tắt: G):
Kích và kéo gradient màu phủ đầy lên layer hoặc vùng mà bạn chọn bằng
màu foreground và background trên thanh công cụ. Có rất nhiều tùy chọn
gradient màu bạn có thể sử dụng. Mở rộng trong công cụ này còn có Paint
Bucket Tool - dùng để phủ một màu đơn cho 1 vùng hoặc 1 layer đang chọn.
Nhấn Shift + G để chuyển đổi giữa 2 chế độ phủ màu.
|
 |
Blur, Sharpen, and Smudge Tools: mặc
định, công cụ này không có phím tắt. Có ba công cụ chỉnh sửa ảnh nằm
trong nút công cụ này. Smudge là thanh công cụ đặc biệt có thể tạo hiệu
ứng vuốt màu tuyệt vời trên hình ảnh của bạn. Chuột phải vào nút công cụ
để chọn những công cụ khác nhau: Blur và Sharpen.
|
 |
Dodge and Burn Tools (phím tắt: O):
Dodge và Burn là công cụ chỉnh sửa giúp làm sáng hoặc tối một vùng cho
bức ảnh. Nhấn Shift + O để thay đổi lựa chọn giữa các công cụ.
|
 |
Pen Tool (phím tắt: P): Đây là
một công cụ "gây ác mộng" cho người dùng mới bắt đầu. Các công cụ Pen
rất khó trong việc sử dụng nhưng là một ưu điểm của Photoshop. Shift + P
sẽ cho phép bạn chuyển đổi giữa các công cụ làm việc với path (đường
dẫn).
|
 |
Type Tool (phím tắt: T): Cho
phép bạn nhập một đoạn nội dung, mặc định là theo chiều ngang. Nhấn
Shift + T để chọn công cụ Vertical Type Tool (nhập nội dung theo chiều
dọc) và Type Mask Tools.
|
 |
Path Selection and Direct Selection Tools (phím tắt: A):
Đây là một công cụ chỉnh sửa các phân đoạn trong một đoạn đường dẫn
(path). Có thể bỏ qua công cụ này trừ khi bạn sử dụng Pen Tool để vẽ 1
đoạn đường dẫn. Nhấn Shift + A để chuyển đổi giữa Path Selection và
Direct Selection.
|
 |
Custom Shape Tool (phím tắt: U):
Đây là công cụ để tạo các hình vector hoặc clipart từ một thư viện hình
có sẵn. Nhấn Shift + U để lựa chọn giữa các công cụ vẽ hình chữ nhật,
tam giác, các đường nét và hình clipart.
|
 |
Zoom Tool (phím tắt: Z): Đây là
công cụ dùng để zoom to và nhỏ ảnh. Phóng to với việc nhấn chuột trái
và thu nhỏ bằng cách nhấn thêm Alt trong khi kích chuột. Đây là công cụ
cơ bản nhất trên thanh công cụ.
|
 |
Hand Tool (phím tắt: H): Cuộn
tài liệu mà không cần sử dụng con trỏ chuột hay phím mũi tên. Nhấn và
giữ phím Space bất cứ khi nào bạn cần sử dụng công cụ này, nhả phím
Space khi không cần sử dụng đến nó nữa.
|
 |
Background/Foreground: Đây là bảng 2 màu
sắc đang được sử dụng để chỉnh sửa ảnh. Màu trên là Foreground, màu
dưới là Background. Nhấn phím X trên bàn phím để chuyển đổi màu
Foreground thành Background và ngược lại. Nhấn phím D để đưa 2 màu này
về mặc định là trắng và đen.
|
 |
Quick Mask Mode (phím tắt: Q):
Đây là một chế độ thay thế cho việc tạo các lựa chọn phức tạp với các
công cụ Brush, Eraser và Paint Bucket. Nhấn phím Q để chuyển đổi giữa
việc chọn chế độ Quick Mask Mode và chế độ thường.
|
|
đăng 17:00 23-07-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
[
đã cập nhật 19:23 14-11-2010
]
Khi bạn tạo một vùng chọn, thì phần hình ảnh không được chọn (non-selected area) được che đi (masked), tức là được bảo vệ trước các thao tác chỉnh sửa hình ảnh. Như vậy khi bạn tạo ra một bản che (mask), bạn đã cô lập và bảo vệ một số phần của hình ảnh trước các thao tác như: chỉnh sửa màu, áp dụng kính lọc (filter), tô vẽ...  | A. Bản che đục (opaque mask) bảo vệ nền background và cho phép hiệu chỉnh con bướm B. Bản che đục (opaque mask) bảo vệ con bướm và cho phép hiệu chỉnh nền background C. Bản che nửa trong suốt (semitransparent mask) dùng để hiệu chỉnh nền background và một phần của con bướm |
Chế độ Quick Mask Chế độ Quick Mask cho phép chuyển vùng chọn thành một bản che tạm (temporary mask) để tiện việc chỉnh sửa vùng chọn. Sự tiện lợi trong việc chỉnh sửa vùng chọn như là một mask là ở chỗ bạn có thể sử dụng hầu hết các công cụ và filter của Photoshop để hiệu chỉnh mask. Mỗi khi bạn thoát khỏi chế độ Quick Mask, mask sẽ được chuyển trở lại thành vùng chọn. Cách sử dụng: - Vẽ phác một vùng chọn. - Chọn nút Edit in Quick Mask mode trên thanh công cụ hoặc nhấn phím Q. - Một cách mặc nhiên, khi đó vùng che (masked areas) sẽ được phủ bằng 50% của màu đỏ (red).  | A.Chế độ chuẩn B.Chế độ Quick Mask C.Vùng chọn được biểu thị bằng màu trắng trên biểu tượng thu nhỏ trên Channels panel D. Vùng không chọn được biểu thị bằng màu đen trên biểu tượng thu nhỏ trên Channels panel |
- Để hiệu chỉnh mask, bạn có thể dùng các công cụ tô vẽ hoặc filter. Khi đó, màu foreground và background trên thanh công cụ được tự động chuyển thành đen và trắng. Tô với màu đen là để mở rộng vùng che và thu hẹp vùng chọn. Tô với màu trắng là mở rộng vùng chọn và thu hẹp vùng che. Tô với màu xám là để tạo vùng chọn nửa trong suốt (semi-transparent). Để quay trở lại chế độ chuẩn (Standard mode), bạn chọn nút trên thanh công cụ. Khi đó vùng chọn sẽ được hiện trở lại như bình thường.  | A.Vùng chọn ban đầu và chế độ Quick Mask với màu lục tượng trưng cho vùng che B.Tô với màu trắng trong chế độ Quick Mask để mở rộng vùng chọn C.Tô với màu đen trong chế độ Quick Mask để thu hẹp vùng chọn |
Lưu ý: - Để chuyển đổi qua lại giữa 2 chế độ Standard mode và Quick Mask mode , bạn có thể bấm phím tắt (Q). - Để đảo màu foreground color và backgound color, bạn bấm chuột vào biểu tượng trên thanh công cụ hoặc bấm phím tắt (X). - Vùng chọn tạo bởi chế độ Quick Mask chỉ là vùng chọn tạm thời. Để lưu vùng chọn này thành kênh alpha, bạn hãy sử dụng những cách đã tìm hiểu trong phần Lưu và nạp vùng chọn. Thay đổi tùy chọn của Quick Mask Muốn thay đổi các tùy chọn của chế độ Quick Mask, bạn bấm đúp chuột vào biểu tượng trên thanh công cụ để hiển thị hộp thoại sau:  | Mặc định 50% red tượng trưng cho vùng che (masked areas). Bạn có thể bấm chuột vào ô màu để thay đổi màu mặc định |
Masked Areas: chọn tùy chọn này để định vùng che là đen (đục) và vùng chọn là trắng (trong suốt). Tô với đen để mở rộng vùng che; tô với trắng để mở rộng vùng chọn. Khi chọn tùy chọn này, nút Quick Mask trên thanh công cụ có dạng hình tròn màu trắng trên nền xám  Selected Areas: chọn tùy chọn này để định vùng che là trắng (trong suốt) và vùng chọn là đen (đục). Tô với trắng để mở rộng vùng che; tô với đen mở rộng vùng chọn. Khi chọn tùy chọn này, nút Quick Mask trên thanh công cụ có dạng hình tròn màu xám trên nền trắng Mẹo: Để chuyển đổi qua lại giữa 2 tùy chọn Masked Areas và Selected Areas của chế độ Quick Mask, bạn có thể nhấn giữ phím Alt và bấm chuột vào nút Quick Mask trên thanh công cụ.
GV. NGUYỄN KHOA CÁT Công ty TNHH Khải Thiên (KTC Co., Ltd) – Trung Tâm Đào tạo |
đăng 16:59 23-07-2009 bởi Huỳnh Anh Kiệt
[
đã cập nhật 19:26 14-11-2010
]
Trong bài này chúng ta tiếp tục tìm hiểu về các phương pháp tinh chỉnh vùng chọn, đồng thời làm quen với những cách thức để lưu và nạp vùng chọn.  | | Adobe Photoshop CS4 Extended |
VIII. Chỉnh sửa vùng chọn a. Chức năng Select > Modify > Border… cho phép tạo khung cho một vùng chọn sẵn có với độ rộng làwidth. Width có thể thay đổi từ 1-200. Giả sử width có giá trị là 20 thì vùng chọn mới sẽ được tạo thành từ vùng chọn cũ bằng cách lấn vào trong 10 pixels và lấn ra ngoài 10 pixels.  | - Ảnh trái: Hình ảnh ban đầu - Ảnh phải: Sau khi thực hiện lệnh Border với width bằng 10 pixels |
b. Chức năng Select > Modify > Smooth… dùng để làm trơn vùng chọn đã được tạo bởi công cụ Magic Wand hoặc bo tròn góc cho vùng chọn hình chữ nhật. c. Chức năng Select > Modify > Expand… và Select > Modify > Contract… cho phép mở rộng hoặc thu hẹp vùng chọn theo một số điểm ảnh được định bởi giá trị Expand by và Contract by. Giá trị này thay đổi từ 1-100. d. Chức năng Select > Modify > Feather… (Ctrl + Alt + D): làm mờ (blur) biên của vùng chọn bằng cách tạo ra một ranh giới chuyển tiếp (transition boundary) giữa vùng chọn và những điểm xung quanh. Việc làm mờ này sẽ làm mất chi tiết của những điểm tại biên của vùng chọn.  | - Hình A: Vùng chọn không được feather, sau đó được tô mẫu (pattern fill) - Hình B: Vùng chọn được feather, sau đó được tô mẫu (pattern fill) |
IX. Tinh chỉnh vùng chọn Chức năng Select > Refine Edge... (Ctrl + Alt + R) cải thiện chất lượng của vùng chọn và cho phép quan sát vùng chọn với các màu nền khác nhau để dễ hiệu chỉnh. – Tạo vùng chọn bằng 1 công cụ chọn bất kỳ – Chọn Select > Refine Edge... (Ctrl + Alt + R) để hiển thị hội thoại sau: Radius: xác định kích thước của vùng bao xung quanh vùng chọn mà tại đó việc tinh chỉnh vùng chọn sẽ được thực hiện. Bạn có thể tăng giá trị Radius để tạo ra một vùng chọn chính xác cho những vùng có độ chuyển nhẹ nhàng và nhiều chi tiết như lông, tóc hoặc các biên mờ. Contrast: làm cho biên của vùng chọn sắc cạnh và loại bỏ chi tiết thừa. Khi Radius có giá trị lớn, bạn cần tăng Contrast để loại bỏ nhiễu tại biên của vùng chọn. Smooth: có giá trị từ 0-100 nhằm loại bỏ các “đồi núi” và “thung lũng” trên vùng chọn, giúp cho vùng chọn được trơn hơn. Feather: có giá trị từ 0-250 nhằm tạo ra sự chuyển tiếp nhẹ nhàng giữa vùng chọn và những điểm ảnh lân cận. Contract/Expand: thu hẹp hoặc nới rộng vùng chọn. Nếu đối tượng cần chọn có màu khác biệt với màu nền, bạn hãy tăng Radius, chỉnh Contrast để làm sắc nét biên của vùng chọn, rồi mới điều chỉnh thanh trượt Contract/Expand. Nếu màu của đối tượng cần chọn gần trùng với màu nền bạn hãy điều chỉnh Smooth trước, sau đó đến Feather rồi mới điều chỉnh thanh trượt Contract/Expand.  | A. Xem trước (preview) ở chế độ chuẩn B. Xem trước ở chế độ Quick Mask C. Xem trước với nền đen D. Xem trước với nền trắng E. Xem dưới dạng kênh Alpha |
X. Lưu và nạp vùng chọn 1. Lưu vùng chọn Ở mỗi thời điểm chỉ có một vùng chọn. Khi bạn vẽ một vùng chọn mới thì vùng chọn cũ sẽ bị mất. Do đó để lưu vùng chọn nhằm mục đích tái sử dụng, bạn có những cách sau: a. Cách 1: Chọn Window > Channels để hiển thị Channels panel. Bấm chuột vào nút Save selection as channel (lưu vùng chọn) của Channels panel. Sau khi lưu vùng chọn, trên Channels panel sẽ xuất hiện một kênh mới, gọi là kênh alpha (alpha channel). Mục đích của kênh alpha là dùng để lưu trữ vùng chọn. Vùng trắng trên kênh alpha tượng trưng cho vùng chọn (selected area). Vùng đen trên kênh alpha tượng trưng cho vùng không được chọn (non-selected area) hay còn gọi là vùng bị che (masked area).  | | Vùng chọn được lưu trên kênh Alpha |
b. Cách 2: Chọn Select > Save Selection...  | | Bạn có thể gõ tên vào trường Name để đặt tên cho kênh Alpha |
2. Nạp vùng chọn Nếu muốn nạp trở lại vùng chọn đã được lưu trên kênh alpha, bạn có những cách sau: a. Cách 1: Chọn Select > Load Selection... để hiển thị hộp thoại Load Selection  | | Chọn kênh Alpha cần nạp. Chọn dấu kiểm Invert để đảo vùng chọn |
b. Cách 2: Trên Channels panel, dùng chuột kéo kênh cần nạp vùng chọn vào nút Load channel as selection  c. Cách 3: Nhấn giữ phím Ctrl rồi bấm chuột vào kênh cần nạp vùng chọn trên Channels panel. (còn tiếp)
GV NGUYỄN KHOA CÁT Công ty TNHH Khải Thiên (KTC Co., Ltd) - Trung Tâm Đào tạo |
|